Hoàn cảnh sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ

Bạn đang xem: Hoàn cảnh sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ tại thomo.vn Câu hỏi: Hoàn cảnh sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ Lời giải:          –  Xuất xứ: Bài thơ được sáng tác …

Câu hỏi: Hoàn cảnh sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ

Lời giải:

         –  Xuất xứ: Bài thơ được sáng tác năm 1938, in trong tập thơ Gái quê

         – Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Lấy cảm hứng từ mối tình đơn phương của Hàn Mặc Tử dành cho người con gái xứ Huế: Trong thời kì làm việc tại sở Đạc Điền (tỉnh Quy Nhơn), ông đã đem lòng yêu cô con gái của một viên chức cấp cao tên Hoàng Cúc, một thiếu nữ với vẻ đẹp kín đáo, chân quê. Tuy nhiên, do bản tính nhút nhát, rụt rè nhưng mà Mặc Tử chỉ dám đứng từ xa nhìn cô gái và mối tình đơn phương đó đã dần phai nhạt lúc Hoàng Cúc theo cha về thôn Vĩ Dạ (Huế). Lúc biết được tình cảm của Mặc Tử dành cho nàng Cúc và biết được bệnh tình nghiêm trọng của Hàn Mặc Tử lúc đó, anh họ nàng đồng thời là bạn của thi sĩ họ Hàn – Hoàng Tùng Ngâm viết thư cho Hoàng Cúc để mong nàng viết thư động viên Hàn Mặc Tử. Thay vì viết thư thăm hỏi thuần tuý, Hoàng Cúc đã gửi kèm một bức bưu ảnh có in hình phong cảnh tự nhiên Vĩ Dạ. Chính từ bức ảnh và mối tình tha thiết với người con gái xứ Huế đã khơi gợi xúc cảm, trở thành nguồn cảm hứng để Hàn Mặc Tử viết bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ này.

Các em cùng tìm hiểu thêm về tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ nhé!

1. Tác giả Hàn Mặc Tử

        – Hàn Mặc Tử (1912-1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, quê ở làng Mĩ Lệ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới (nay thuộc tỉnh Quảng Bình). Hàn Mặc Tử xuất thân trong một gia đình viên chức nghèo, cha mất sớm, từ nhỏ sống với mợ ở Quy Nhơn và có một thời kì học trung học ở Huế. Hết thời kì ở Huế, Hàn Mặc Tử làm mướn chức ở Sở Đạc điều Bình Định rồi vào Sài Gòn làm báo. Năm 1936, Hàn Mặc Tử phải trở về Quy Nhơn để chữa bệnh, bốn năm sau ông mất do căn bệnh phong.

         – Hàn Mặc Tử làm thư từ rất sớm (14, 15 tuổi) với nhiều bút danh không giống nhau như Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh… Ban sơ Hàn Mặc Tử sáng tác theo thơ cổ điển Đường luật, sau đó chuyển sang sáng tác theo thiên hướng lãng mạn. Cuộc đời Hàn Mặc Tử thật ngắn ngủi và chịu nhiều đau thương, nhưng với khả năng thông minh và nghị lực phi thường, ông đã để lại cho thế hệ sau nhiều tác phẩm có trị giá nghệ thuật cao. Qua dung mạo hết sức phức tạp và đầy bí mật của thơ Hàn Mặc Tử, người ta vẫn thấy rõ một tình yêu tới đớn đau hướng về cuộc đời trần thế.

        – Các tác phẩm chính của Hàn Mặc Tử: Gái quê (1936), Thơ Điên (1938), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm nhung duyên, Duyên kì ngộ (kịch thơ —1939), Quần tiên hội (kịch thơ — 1940), Chơi giữa mùa trăng (thơ văn xuôi —1940). Ngoài tác phẩm Gái quê được in lúc tác giả còn sống, còn tất cả các tác phẩm còn lại đều dược in thành tập lúc Hàn Mặc Tử đã mất.

        – Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ lúc đầu có tên Ở đây thôn Vĩ Dạ được in trong tập Thơ Điên (về sau đổi thành Đau thương). Cảm hứng của bài thơ có thể được lấy từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái quê ở Vĩ Dạ, một xóm nhỏ bên dòng sông Hương.

        – Tâm hồn thơ ông đã thăng hoa thành những vần thơ tuyệt diệu, không những gợi cho ta niềm thương cảm còn mang đến cho ta những xúc cảm thẩm mĩ kì thú và niềm tự hào về sức thông minh của con người.

        – Quá trình sáng tác thơ của ông đã thâu tóm cả quá trình tăng trưởng của thơ mới từ lãng mạn sang tượng trưng tới siêu thực.

2. Trị giá nội dung bài Đây thôn Vĩ Dạ

        – Cả bài thơ là một bức tranh thôn Vĩ vừa mang vẻ đẹp rất thực với tất cả nét trong sáng, tinh khôi, thơ mộng rất đặc trưng cho xứ Huế nhưng cũng rất mơ hồ, hư ảo…được mô tả qua tâm tưởng của thi sĩ.

        – Mạch tâm tư như dòng chảy đứt nối của một niềm thiết tha gắn bó với đời, thiết tha sống tới khắc khoải của nhân vật trữ tình. (Từ ước ao đắm say – hoài vọng phấp phỏng – tơ tưởng, hoài nghi và càng về sau càng có phần âm u sầu muộn. Nhưng then chốt của dòng tâm tư vẫn là niềm thiết tha với đời, mối khát khao gắn bó khôn nguôi- nỗi u hoài của một tâm hồn trong trẻo lành mạnh)

        => Bài thơ ko chỉ trình bày tình yêu thiết tha đối với xứ Huế, với quê hương của thi sĩ, nhưng mà còn trình bày khát vọng sống mãnh liệt của Hàn Mặc Tử. ( ko bộc lộ theo lối xuôi chiều nhưng mà đầy uẩn khúc trong xúc cảm của thi sĩ)

3. Trị giá nghệ thuật bài Đây thôn Vĩ Dạ

        – Mạch thơ đứt nối ko theo tính liên tục của thời kì và duy nhất của ko gian nhưng lại diễn tả mạch vận động nhất quán của dòng tâm tư

        – Hình ảnh lạ mắt giàu sức gợi, tiếng nói cực tả trong sáng, súc tích. ( Vườn người nào mướt quá…Thuyên trăng, áo em trắng quá…=> hợp thành dung mạo một cõi tục gian tuyệt đẹp nhưng mà thi sĩ càng mang nặng tự ti chia li bao nhiêu thì càng thiết tha gắn bó hơn bao giờ hết)

4. Ý nghĩa nhan đề Đây thôn Vĩ Dạ

        Đặt tên tác phẩm là Đây thôn Vĩ Dạ chứ ko phải Thôn Vĩ Dạ vì Hàn Mặc Tử muốn người đọc tinh ý nhìn thấy dụng ý của từ đây. Nó như một lời giới thiệu tới người đọc về đất Vĩ Dạ đẹp nên thơ. Từ đây cũng cho thấy thi sĩ như đang đặt tay lên lồng ngực mình, gọi những tiếng thân yêu: Vĩ Dạ, Vĩ Dạ ở Huế, Vĩ Dạ cũng ở “đây”, trong tim Hàn Mặc Tử. 

5. Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

        Bài thơ đây thôn Vĩ Dạ được ra đời từ một nguyên nhân rất đặc trưng. Lúc Hàn Mặc Tử lâm bệnh nặng kì vọng những phút chốc tới với tử thần ở trại phong Quy Hòa, Quy Nhơn, thì thi sĩ đã bất thần thu được một tấm bưu ảnh do người bạn gái là Hoàng Thị Kim Cúc gửi tặng từ thôn Vĩ Dạ. Tấm bưu ảnh đó có phong cảnh sông nước đêm trăng, có thuyền và bến. Phía sau kèm theo mấy lời thăm hỏi để xoa dịu thi sĩ lúc này đang mang căn bệnh hiểm nghèo.

        Đối với người phổ biến tấm bưu ảnh chỉ là một quan hệ xã giao thăm hỏi nhau nhưng với Hàn Mặc Tử thì có ý nghĩa rất riêng. Nó đã cho thi sĩ được yêu người trong mộng với một tình yêu sâu kín nỗi lòng. Vì thế nhưng mà, tuyệt tác “Đây thôn Vĩ Dạ” đã ra đời.

Khổ thứ nhất mở đầu là câu hỏi của một người con gái.

“Sao anh ko về chơi thôn Vĩ?”

        Thực ra đây là một lời trách yêu, một sự dỗi hờn trình bày nỗi trông ngóng da diết của cô gái ở thôn Vĩ. Nhưng trong thực thế thì ko có người con gái nào đang trực tiếp đối với Hàn Mặc Tử cả. Lời nói dịu dàng và chứa đầy mến thương đó chính là những dòng chữ trong tấm bưu ảnh kia, nó xôn xao, sống dậy, nó trở thành nhạc điệu và phát ra tiếng nói.

        Ở câu thơ thứ hai chúng ta hết sức bất thần vì lời mới vừa cất lên thì ngay tức tốc Hàn Mặc Tử đã có mặt ngay ở ko gian thôn Vĩ Dạ. Rõ ràng đây là một cuộc hành trình trong tiềm thức.

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”

        Câu thơ này xuất hiện hai từ “nắng”. Một cái nắng được phát hiện được mô tả “nhìn nắng hàng cau” và một cái năng tinh khôi mới mẻ, nó khiến thi sĩ phải xuýt xoa reo lên như trẻ em “nắng mới lên”. Đây ko phải là thứ nắng của mặt trời nhưng mà ngày nào chúng ta cũng thấy. Đây là một thứ nắng rất mới vì nó xuất hiện trong buổi rạng đông. Nó thắp nên trên những hàng cau.

        Từ trước tới nay người ta đều cho rằng điểm nhìn của Hàn Mặc Tử là từ xa tới gần. Người du khách thấy được nắng hàng cau và càng tới gần khu vườn càng thấy màu xanh ngọc của là cây. Thực ra ông trở về bằng tiềm thức thì ko nhất quyết phải có một cuộc dạo chơi tương tự. Đôi mắt của Hàn Mặc Tử đang ở trên cao, trên khu vườn thôn Vĩ. Thi sĩ đang xé toạt vòm trời đen để nhìn thấy rạng đông nắng mới kì diệu thắp lên từ thôn Vĩ Dạ. Ko gian nơi có người mình yêu là một khu vườn địa đàng, là nơi có nhiều phép màu cổ tích. Về với thôn Vĩ là trút được những nỗi phiền muộn đớn đau. Vì thế nên tiềm thức của Hàn Mặc Tử đã đáp xuống khu vườn thôn Vĩ.

Bài văn Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ ngắn gọn

        “Vườn người nào mướt qua xanh như ngọc” Câu thơ có tới hai lần xuýt xoa, ngạc nhiên. Đã “vườn người nào mướt quá” lại còn phát xuất hiện cái “mướt quá” đó là “xanh như ngọc”. Tất cả đều non tơ, tất cả đều xanh tươi, mọi chiếc lá ở đây đều xanh như ngọc. Nó ko chỉ cho ta cảm nhận bằng thị giác nhưng mà còn cho ta cảm nhận tiếng va chạm của những chiếc lá ngọc.

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

        Câu thơ cuối khổ một là câu thơ có nhiều cách hiểu không giống nhau. Có người cho rằng “mặt chữ điền” chính là khuôn mặt của người con gái đã mời Hàn Mặc Tử về chơi thôn Vĩ. Bời vì “vườn người nào” chính là vườn của em, nhìn thấy khuôn mặt của em trong khu vườn đó thì rất hợp pháp. Nhưng thi sĩ Chế Lan Viên – bạn của Hàn Mặc Tử đã rất bất mãn với cách hiểu này, ông cho rằng mặt chữ điền có thể ko xấu nhưng nhất mực đó là gương mặt ko theo chuẩn mực cái đẹp của người Việt Nam lúc nhận định phụ nữ. Cũng có ý kiến lại nói là “mặt chữ điền” là viên gạch có bốn ô vuông thường được xây trên bức bình phong của những ngôi nhà ở thôn Vĩ.

        Thực ra nếu đọc thơ Hàn Mặc Tử chúng ta sẽ bắt gặp nhiều hình tượng, toàn cầu kì lạ. Việc thi sĩ gặp mình trong quá khứ cũng như trong tương lai là rất phổ thông. Vì thế dù thật khó tin nhưng ở đây Hàn Mặc Tử đã gặp lại chính mình với gương mặt chữ điền thời còn là chàng trai tài hoa nổi danh trên đất Huế. Thi sĩ muốn yêu một tình yêu trong trắng, thanh thản, đắm say thì phải trở lại là con người của quá khứ, phải là một thi sĩ đa tình phong túc thời còn ở Huế. Nói đúng ra là thi sĩ muốn quên mình trong hiện nay với căn bệnh hiểm nghèo để đươc yêu. Hình tượng “lá trúc che ngang” càng cung ứng cho gương mặt chữ điền đó những nét ngang tàng, phóng khoáng mạnh mẽ của người đàn ông. Lá trúc trong quan niệm xưa chính là bộc lộ cho người quân tử.

        Nếu khổ thơ thứ nhất cho chúng ta ấn tượng về buổi sáng thì khổ thơ thứ hai cho chúng ta ấn tượng vè buổi chiều ở một ko gian trống rỗng ngoài thôn Vĩ Dạ và sau đó là buổi tối với cảnh sông nước con thuyền tràn trề ánh trăng. Cả bốn câu thơ phần nào gợi cho chúng tôi về phong cảnh xứ Huế nhưng thực ra mọi hình tượng đều tồn tại trong những quan hệ nghịch lí, trái tự nhiên.

“Gió theo lối gió, mây đường mây”

        Câu thơ thứ hai ko chỉ là nghịch lí nhưng mà còn là một sự trớ trêu. Lẽ tự nhiên hoa bắp lay động thì mặt nước phải gợn sóng. Thế nhưng ở đây chỉ có hoa bắp lay động cùng giò để dòng nước một mình buồn thiu. Chẳng thà xa mặt cách lòng như gió với mây còn hơn đứng kế bên nhau nhưng mà cho nhau nhiều đắng cay, tủi cực.

        Nếu khổ thơ đầu ta cảm nhận một tình yêu sắp nảy nở tuyệt vời nhưng tới khổ thơ sau thì ta lại gặp một cuộc tình tan tành chia phôi. Thông qua cách nói nóng gió, Hàn Mặc Tử đã chua chat phủ định người mời mình về thăm thôn Vĩ. Đó là một kể phụ tình bỏ rơi những lời hứa hẹn ước, làm tan tành trái tim của kẻ mến thương tin tường dại khờ.

        Người yêu trong mộng của Hàn Mặc Tử lúc thì mời đón dành sẵn một toàn cầu mến thương kì vọng, lúc thì trở thành một kẻ phụ tình phũ phàng rất lạnh lùng. Và thật bất thần con người đó bỗng dung xuất hiện thật nhân hậu và khoan thứ.

“Thuyền người nào đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

        Hình tượng trăng trong thơ Hàn Mặc Tử xuất hiện rất nhiều. Trăng muôn thuở là biểu tượng của hạnh phúc, đặc trưng là hạnh phúc lứa đôi. Quá khát khao hạnh phúc nên hai câu thơ của Hàn Mặc Tử tràn trề ánh trăng: bến trăng, sông trăng, thuyền trăng, chở trăng.

        Nhân vật “người nào” ở đây chỉ có thể là người mời Hàn Mặc Tử về thăm thôn Vĩ. Người đó đang cắm thuyền ở bến sông để kì vọng lấy được nhiều ánh trăng hạnh phúc và sẽ chở trăng về cho thi sĩ tối nay. Đó là sự mến thương cao cả, là sự thấu hiểu tới tường tận những khát khao của Hàn Mặc Tử. Thế nhưng chữ “kịp” ở đây lửng lờ một câu hỏi: liệu có chở kịp trăng về trong tối hôm nay? Có thể kip và cũng có thể ko còn kịp nữa… Tối nay là một khái niệm thời kì ngắn ngủi. Hàn Mặc Tử biết rằng sự sống của mình chỉ còn lại những giây phúc ngắn ngủi ở trần thế, sẽ có người đem hạnh phúc tới cho thi sĩ nhưng nếu tới trễ thì hạnh phúc đó thật vô nghĩa.

“Mơ khách đường xa, khách đường xa”

        Mở đầu khổ thơ thứ ba là một câu thơ thật đặc trưng. Khách vốn đã xa lạ nhưng mà thi sĩ còn lặp tới hai lần sự xa lạ đó “khách đường xa, khách đường xa”. Thế nhưng mà, lại có một giấc mơ về người khách ko quen đó. Thực ra đây là người mời Hàn Mặc Tử về thăm thôn Vĩ nhưng thi sĩ hiểu rằng người đó ngoài tầm tay với của mình. Con người đó càng lúc càng trở thành xa lạ và càng ko níu kéo được nên Hàn lại càng gửi gắm vào giấc mơ. Có thể thấy tâm tình này qua những vần thơ khác của Hàn:

“Người đã đi rồi khôn níu lại

Tình yêu chưa đã, mến chưa bưa

Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi tới dại khờ”.

        Bởi muốn tìm một tình yêu trong mộng để được sống có ý nghĩa trong những phút chốc cuối đời nên tâm trạng của Hàn Mặc Tử luôn có những đối cực. Ban sơ là hi vọng tràn trề rồi lại trách móc coi người mình yêu là kẻ phụ tình; liền sau đó thi sĩ thấy người con gái mời mình về thăm thôn Vĩ thật chung tình, sẵn sàng cắm thuyền đợi đợi mong ánh trăng hạnh phúc tới cho mình. Tiếp theo, Hàn Mặc Tử vô vọng nhìn người yêu mình như “khách đường xa”. Nhưng cũng liền sau đó, thi sĩ thấy người đó quay trở lại với mình, cô gái đó hoàn toàn trong trắng và thánh thiện. Đại từ “em” thật giản dị, thân thiện biết bao:

“Áo em trắng quá nhìn ko ra”

        Câu thơ vừa sáng bừng lên niềm hi vọng thì nó đã cho Hàn Mặc Tử cảm nhận ngay sự vô vọng. Đáng lẽ “áo em trắng quá” thì anh phải nhìn rất rõ em. Thế nhưng áo em càng trắng bao nhiêu thì anh lại càng ko nhìn ra bấy nhiêu. Thực ra anh ko dám nhìn bởi vì em quá trong trắng, thanh cao… Tự ti lúc mến thương là một quy luật. Nhưng tôn thờ để rồi tự ti như Hàn Mặc Tử là do có nguyên nhân hậu cuộc đời riêng. Thi sĩ hiểu hoàn cảnh thực tại của mình, vì thế nhưng mà dù nhân vật “em” trở lại với mình, thi sĩ cũng ko dám yêu. Hàn Mặc Tử phải tự khước từ với tình yêu của mình.

        Câu thơ thứ ba nhuốm màu sắc bi quan của một triết lí nhân sinh:

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”

Nguyễn Gia Thiều đã từng viết:

“Con quay búng sẵn lên trời

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”

        Đời người là một con quay đã búng sẵn, chính bản thân ta cũng ko thể điều khiển được số phận của ta. Trong mối quan hệ với người khác thì ta chỉ nắm bắt được “nhân ảnh” chứ ko thể là chính người đó. Hàn Mặc Tử cũng vậy, thi sĩ hiểu rằng mình ko chủ động được với chính mình, mình ko thể nhìn thấy rõ hình ảnh của người yêu. Thi sĩ hiểu rằng sương khói của cuộc đời đang xóa nhòa “nhân ảnh” của nhân vật “em”… Đó là một nhận thức thật chua chat, ngậm ngùi, nó để lại sự trống vắng như một trong hoang mạc trong tâm hồn Hàn Mặc Tử. Đây chính là nguyên nhân làm cho thi sĩ thốt ra một câu hỏi chơ vơ vô vọng ko có chỗ nào để bám víu:

“Người nào biết tình người nào có đặm đà?”

        Hai đại từ “người nào” ở câu thơ này tạo nên nhiều cách hiểu: ko biết em có hiểu được chính tình yêu của em đặm đà hay ko? Ko biết bản thân anh có biết được tình yêu của chính mình đặm đà ko? Liệu em có biết tình anh đặm đà ko? Liệu anh có biết tình em có đặm đà ko? Một câu hỏi trong thơ nhưng ẩn chứa biết bao nhiêu câu hỏi đằng sau nó, càng hỏi càng thấy “mờ nhân ảnh”, càng vô vọng. Càng tha thiết một tình yêu đặm đà Hàn Mặc Tử càng thấy sự tan vỡ vô vọng với tình yêu. Vì thế nhưng mà cảm hứng chủ đạo của “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là cảm hứng đau xót về một tình yêu vô vọng.

        Mọi sự vô vọng đều cho người ta bi quan, riêng tình yêu vô vọng của Hàn Mặc Tử lại dạy cho ta trị giá nhân văn cao cả. Thi sĩ níu kéo cuộc sống này bằng tình yêu, dù đó là một tình yêu vô vọng. Chúng ta ko gặp hoàn cảnh bi đát như Hàn Mặc Tử, nên chúng ta cần phải biết sống như thế nào, yêu như thế nào trong cuộc đời tuyệt đẹp ở trần thế đáng sống này.

Đăng bởi: thomo.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Xem thêm chi tiết về Hoàn cảnh sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ

Source: THOMO
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận