Mạch cảm xúc trong bài Đây thôn Vĩ Dạ

Bạn đang xem: Mạch cảm xúc trong bài Đây thôn Vĩ Dạ tại thomo.vn Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Mạch xúc cảm trong bài Đây thôn Vĩ Dạ. Các bài văn mẫu …

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Mạch xúc cảm trong bài Đây thôn Vĩ Dạ. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp cụ thể, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé! 

Mạch xúc cảm trong bài Đây thôn Vĩ Dạ – Bài mẫu 1

      Hàn Mạc Tử được biết tới là một thi sĩ có sức thông minh mãnh liệt với phong cách “điên”, có thỉnh thoảng là vượt ra khỏi toàn cầu hiện thực, tràn trề mộng mị. Tuy nhiên sáng tác của ông vẫn có những vần thơ về tự nhiên mượt nhưng mà, đẹp tươi như rọi vào lòng người đọc xúc cảm mới. Bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” là một bức tranh tuyệt đẹp về cảnh vật, tự nhiên xứ Huế mộng mơ. Bức tranh đấy neo đậu trong lòng thi sĩ và neo lại trong lòng người đọc nhiều dư ba.

      “Đây thôn Vỹ Dạ” là bài thơ được ghi sau một bức ảnh được gửi từ người con gái xứ Huế. Lúc đấy Hàn Mạc Tử đang ở Quy Nhơn dưỡng bệnh. Nỗi nhớ mong, hoài niệm về con người và tự nhiên xứ Huế, Hàn Mạc Tử đã viết bài thơ tuyệt đẹp này. Tự nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” dường như cũng mang nhiều gam màu, nhiều cung bậc lộn lạo trong chính xúc cảm của thi sĩ.

      Mở đầu bài thơ là lời trách móc nhẹ nhõm, tình tứ người “khách xa” sao lâu nay ko về Huế chơi:

Sao anh ko về chơi thôn Vỹ

      Tứ thơ thật đẹp, thật tinh tế và ẩn chứa nội dung sâu xa. Nỗi nhớ về Huế được tác giả gửi gắm qua lời trách yêu nhẹ nhõm này. Hàn Mạc Tử đã dẫn dụ người đọc khám phá một bức tranh xứ Huế nhiều nét đẹp riêng.

      Sau lời trách móc đấy, một bức tranh tự nhiên tươi sáng, tràn đầy sức sống xuất hiện:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn người nào mướt quá xanh như ngọ

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

      Bức tranh tự nhiên xứ Huế vào buổi sáng sớm mai tinh khôi, trong sạch. Ánh nắng đầu ngày luôn tinh khô, tràn đầy sức sống nhất. Hình như ánh nắng đang lên cao trên những hàng cau dài thẳng tắp. Từ “nắng” được lặp lại hai lần như nhấn mạnh bầu ko khí trong sạch nhất ở xứ Huế mộng và thơ. Một khu vườn hiện lên thật xinh xẻo và tươi đẹp. “Vườn người nào” phiếm chỉ một địa danh cụ thể nào đó nhưng tác giả ngụ ý ko nói ra. Màu xanh “như ngọc” của khu vườn làm cho bức tranh bừng lên sức sống. Ko phải xanh non, xanh rì nhưng mà là “xanh mướt”. Từ “mướt” làm mềm cả câu thơ và làm cho quang cảnh trở thành hiền dịu và nên thơ hơn

      Tới câu thơ cuối dường như hình ảnh con người mới xuất hiện. Mặt chữ điền là khuôn mặt phú hậu, hiền lành của người đàn ông. Cây trúc biểu tượng cho chí trí nam chi. Có nhẽ có “khách đường xa” nào đã ghé thăm xứ Huế, nhưng chỉ là ghé thăm một cách thầm lặng tương tự.

      Qua tiếng nói điêu luyện, giọng văn nhẹ nhõm, Hàn Mạc Tử đã vẽ lên một bức tranh tự nhiên xứ Huế nên thơ nhất. Tuy nhiên sang tới khổ thơ thứ hai thì dường như bức tranh tự nhiên ở đây đã mở đầu chuyển màu:

Gió theo lối phong vân đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

      Có một sự chia ly, tan vỡ ở trong hai câu thơ. Mây và gió vốn chung đường nhưng trong thơ Hàn Mạc Tử lại chia phôi đôi ngả. Hình ảnh hoa bắp ven bờ sông hương lay nhẹ rơi rụng xuống mặt nước khiến người đọc liên tưởng tới sự nổi trôi, cập kênh của một đời người. Tự nhiên ở đây vẫn đẹp, nhưng đẹp mang nỗi buồn mênh mang và sâu thẳm.

Thuyền người nào đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

      Xứ Huế với một đêm nên thơ, tràn trề ánh trăng nhưng dường như tác giả đang thấp thỏm, lo lắng điều gì đó. Từ “kịp” làm cho mạch thơ vỡ ra, vội vã và gấp gáp hơn. Tác giả đang hỏi người nào hay hỏi chính bản thân mình

      Và tới khổ thơ cuối thì dường như tự nhiên đã chuyển sang gam màu khác, mờ ảo, huyền diệu hơn:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Áo em trắng quá nhìn ko ra

Người nào biết tình người nào có đặm đà

      Một đêm trăng mờ ảo, sông nước mênh mông khiến tác giả có cảm giác như mọi thứ đang ở trong cõi hư vô. Màu trắng bao trùm lấy khổ thơ cuối. Sự mộng mị của cảnh sông nước làm cho tác giả thấy mình chới với, ko có điểm tựa. Câu hỏi cuối cùng của bài thơ là một câu hỏi da diết và day dứt, nó như một điệp âm cứ thổn thức mãi trong lòng tác giả.

      Bức tranh tự nhiên của xứ Huế có sự chuyển biến qua ba khổ thơ theo hướng hư vô, mờ ảo dần. Tuy nhiên người đọc vẫn trông thấy được sức sống tràn trề, nét đẹp tinh khôi của một bức tranh tự nhiên ở Huế.

      “Đây thôn Vỹ Dạ” là một bức tranh về xứ Huế vừa tươi đẹp, vừa mộng mơ, vừa huyền ảo khiến người đọc có cảm giác như đang lạc vào chốn bồng lai tiên giới.

Mạch xúc cảm trong bài Đây thôn Vĩ Dạ – Bài mẫu 2

      Hàn Mạc Tử là thi sĩ với phong cách sang tác riêng và “lạ” trong phong trào Thơ mới. Thơ ông luôn bộc lộ nỗi niềm da diết với đời, với người nhưng nhận lại là sự thờ ơ và lãnh đạm. Đọc thơ Hàn Mạc Tử, chúng ta trông thấy cái tôi hơi hướng “điên” với những vần thơ “suýt” vượt ra khỏi “mảnh đất hiện thực”. Nhưng đối lập với những hình ảnh “điên” đó là những hình ảnh thơ rất đẹp và thi vị. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một ví dụ tiêu biểu. Bức tranh tự nhiên xứ Huế hiện lên nên thơ và tươi đẹp qua những nét vẽ tài hoa của tác giả.

      “Đây thôn Vĩ Dạ” thực ra là lời đáp của thi sĩ dành cho một cô gái ở thôn Vĩ Dạ lúc cô gái đấy trách sao lâu rồi ko ghé về chơi. Tứ thơ được viết ra từ mạch xúc cảm tâm thành và mãnh liệt đó.

      Huế luôn là mảnh đất gợi nhớ, gợi thương đối với những người nào đã từng đặt chân qua đây. Bởi nó có một nét đẹp vừa tươi mới, vừa cổ truyền, vừa thân thiện. Tự nhiên trong bài thơ chính là chất liệu để làm tôn thêm hình ảnh con người nơi xứ Huế.

      Câu thơ đầu có thể nói là câu thơ phác họa một cách rõ nét nhất bức tranh tự nhiên tươi đẹp và đầy thu hút của mảnh đất kinh đô này:

Sao anh ko về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn người nào mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

      Khổ thơ được cất lên bằng tiếng trách hờ của cô gái đối với nhân vật trữ tình. Một câu trách nhẹ nhõm, nhưng tình cảm và đầy sự tinh tế. Dù có trách thì người khác cũng ko nỡ lòng nào để giận để hờn. Và đằng sau câu trách đấy là một bức tranh tự nhiên thơ mộng được vẽ ra. Có thể nói tác giả đã ko còn thuần tuý dùng chất liệu tiếng nói để vẽ tranh nữa nhưng mà đã dùng cả sự rung động trong trái tim để vẽ nên bức tranh tuyệt đẹp đó.

      Tự nhiên cứ thế sang rực lên, tươi tỉnh và khỏe khắn. Cách dùng từ “nắng mới lên” gợi cho người đọc liên tưởng tới nắng đầu ngày, nắng rạng đông thong dong, thư thái và nhẹ nhõm. Nắng mới lên đậu trên hàng cau xanh vút khiến người đọc mường tượng tới một quang cảnh tSahanh mát và trong sạch.

      Ở câu thơ thứ ba, tác giả dùng đại từ phiếm chỉ “vườn người nào” như để hỏi người nhưng cũng là tự hỏi mình. “Vườn người nào” vừa bộc lộ sự kín đáo, e sợ, vừa thê hiện sự tinh tế và thâm thúy của thi sĩ. “Vườn người nào” thì chính trong trái tin của nhân vật trữ tình đã hiểu quá rõ, quá thâm thúy rồi. Màu xanh của khu vườn là một màu xanh rất đặc thù và lạ kì. “Xanh như ngọc” chính là màu xanh vừa trong sạch vừa tinh khôi. Từ “mướt” như làm sang bừng lên cả câu thơ, tạo sự mềm mại và uyển chuyển cho khu vườn buổi sang mai.

      Một bức tranh tự nhiên giàu chất thơ và tươi đẹp biết bao nhiêu.

      Sang tới câu thơ thứ hai thì tự nhiên từ tươi tỉnh chuyển sang buồn bực và vương sự chia li.

Gió theo lối phong vân đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

      Phong vân xưa nay vốn đi chung đường nhưng trong thơ của Hàn Mạc Tử lại là chia đôi thành hai đường xa lạ. Từ “buồn thiu” như diễn tả được tâm trạng của tự nhiên, một sự não nùng và thê lương.

      Đoạn cuối có thể xem là đoạn tự nhiên thôn Vi trở thành huyền ảo và mơ hồ hơn. Có thể nói đó chính là sự cảm nhận tinh tế và thâm thúy của Hàn Mạc Tử.

      Với những nét vẽ đơn giản, nhẹ nhõm nhưng tinh tế và thâm thúy, Hàn Mạc Tử đã vẽ lên trước mắt người xem một bức tranh tự nhiên xứ huế vừa tươi mới, vừa thơ mộng, vừa u sầu. Có nhẽ đó chính là nét đặc trưng của Huế.

Mạch xúc cảm trong bài Đây thôn Vĩ Dạ – Bài mẫu 3

      Bài thơ đây thôn Vĩ Dạ được ra đời từ một nguyên nhân rất đặc thù. Lúc Hàn Mặc Tử lâm bệnh nặng hy vọng những phút chốc tới với tử thần ở trại phong Quy Hòa, Quy Nhơn, thì thi sĩ đã bất thần thu được một tấm bưu ảnh do người bạn gái là Hoàng Thị Kim Cúc gửi tặng từ thôn Vĩ Dạ. Tấm bưu ảnh đấy có phong cảnh sông nước đêm trăng, có thuyền và bến. Phía sau kèm theo mấy lời thăm hỏi để xoa dịu thi sĩ lúc này đang mang căn bệnh hiểm nghèo.

      Đối với người tầm thường tấm bưu ảnh chỉ là một quan hệ xã giao thăm hỏi nhau nhưng với Hàn Mặc Tử thì có ý nghĩa rất riêng. Nó đã cho thi sĩ được yêu người trong mộng với một tình yêu sâu kín nỗi lòng. Vì thế nhưng mà, tuyệt bút “Đây thôn Vĩ Dạ” đã ra đời.

      Khổ thứ nhất mở đầu là câu hỏi của một người con gái.

“Sao anh ko về chơi thôn Vĩ?”

      Thực ra đây là một lời trách yêu, một sự dỗi hờn trình bày nỗi trông ngóng da diết của cô gái ở thôn Vĩ. Nhưng trong thực thế thì ko có người con gái nào đang trực tiếp đối với Hàn Mặc Tử cả. Lời nói dịu dàng và chứa đầy mến thương đấy chính là những dòng chữ trong tấm bưu ảnh kia, nó xôn xao, sống dậy, nó trở thành nhạc điệu và phát ra tiếng nói.

      Ở câu thơ thứ hai chúng ta hết sức bất thần vì lời mới vừa cất lên thì ngay tức tốc Hàn Mặc Tử đã có mặt ngay ở ko gian thôn Vĩ Dạ. Rõ ràng đây là một cuộc hành trình trong tiềm thức.

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”

      Câu thơ này xuất hiện hai từ “nắng”. Một cái nắng được phát hiện được mô tả “nhìn nắng hàng cau” và một cái năng tinh khôi mới mẻ, nó khiến thi sĩ phải xuýt xoa reo lên như trẻ em “nắng mới lên”. Đây ko phải là thứ nắng của mặt trời nhưng mà ngày nào chúng ta cũng thấy. Đây là một thứ nắng rất mới vì nó xuất hiện trong buổi rạng đông. Nó thắp nên trên những hàng cau.

      Từ trước tới nay người ta đều cho rằng điểm nhìn của Hàn Mặc Tử là từ xa tới gần. Người du khách thấy được nắng hàng cau và càng tới gần khu vườn càng thấy màu xanh ngọc của là cây. Thực ra ông trở về bằng tiềm thức thì ko nhất quyết phải có một cuộc dạo chơi tương tự. Đôi mắt của Hàn Mặc Tử đang ở trên cao, trên khu vườn thôn Vĩ. Thi sĩ đang xé toạt vòm trời đen để nhìn thấy rạng đông nắng mới kì diệu thắp lên từ thôn Vĩ Dạ. Ko gian nơi có người mình yêu là một khu vườn địa đàng, là nơi có nhiều phép màu cổ tích. Về với thôn Vĩ là trút được những nỗi phiền muộn đớn đau. Vì thế nên tiềm thức của Hàn Mặc Tử đã đáp xuống khu vườn thôn Vĩ.

      “Vườn người nào mướt qua xanh như ngọc” Câu thơ có tới hai lần xuýt xoa, ngạc nhiên. Đã “vườn người nào mướt quá” lại còn phát xuất hiện cái “mướt quá” đấy là “xanh như ngọc”. Tất cả đều non tơ, tất cả đều xanh tươi, mọi chiếc lá ở đây đều xanh như ngọc. Nó ko chỉ cho ta cảm nhận bằng thị giác nhưng mà còn cho ta cảm nhận tiếng va chạm của những chiếc lá ngọc.

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

      Câu thơ cuối khổ một là câu thơ có nhiều cách hiểu không giống nhau. Có người cho rằng “mặt chữ điền” chính là khuôn mặt của người con gái đã mời Hàn Mặc Tử về chơi thôn Vĩ. Bời vì “vườn người nào” chính là vườn của em, nhìn thấy khuôn mặt của em trong khu vườn đấy thì rất hợp pháp. Nhưng thi sĩ Chế Lan Viên – bạn của Hàn Mặc Tử đã rất bất mãn với cách hiểu này, ông cho rằng mặt chữ điền có thể ko xấu nhưng nhất mực đó là gương mặt ko theo chuẩn mực cái đẹp của người Việt Nam lúc thẩm định phụ nữ. Cũng có ý kiến lại nói là “mặt chữ điền” là viên gạch có bốn ô vuông thường được xây trên bức bình phong của những ngôi nhà ở thôn Vĩ.

      Thực ra nếu đọc thơ Hàn Mặc Tử chúng ta sẽ bắt gặp nhiều hình tượng, toàn cầu kì lạ. Việc thi sĩ gặp mình trong quá khứ cũng như trong tương lai là rất phổ thông. Vì thế dù thật khó tin nhưng ở đây Hàn Mặc Tử đã gặp lại chính mình với gương mặt chữ điền thời còn là chàng trai tài hoa nổi danh trên đất Huế. Thi sĩ muốn yêu một tình yêu trong trắng, thanh thản, đắm say thì phải trở lại là con người của quá khứ, phải là một thi sĩ đa tình phong túc thời còn ở Huế. Nói đúng ra là thi sĩ muốn quên mình trong ngày nay với căn bệnh hiểm nghèo để đươc yêu. Hình tượng “lá trúc che ngang” càng hỗ trợ cho gương mặt chữ điền đấy những nét ngang tàng, phóng khoáng mạnh mẽ của người đàn ông. Lá trúc trong quan niệm xưa chính là biểu thị cho người quân tử.

      Nếu khổ thơ thứ nhất cho chúng ta ấn tượng về buổi sáng thì khổ thơ thứ hai cho chúng ta ấn tượng vè buổi chiều ở một ko gian trống rỗng ngoài thôn Vĩ Dạ và sau đó là buổi tối với cảnh sông nước con thuyền tràn trề ánh trăng. Cả bốn câu thơ phần nào gợi cho chúng tôi về phong cảnh xứ Huế nhưng thực ra mọi hình tượng đều tồn tại trong những quan hệ nghịch lí, trái tự nhiên.

“Gió theo lối gió, mây đường mây”

      Câu thơ thứ hai ko chỉ là nghịch lí nhưng mà còn là một sự trớ trêu. Lẽ tự nhiên hoa bắp lay động thì mặt nước phải gợn sóng. Thế nhưng ở đây chỉ có hoa bắp lay động cùng giò để dòng nước một mình buồn thiu. Chẳng thà xa mặt cách lòng như gió với mây còn hơn đứng kế bên nhau nhưng mà cho nhau nhiều đắng cay, tủi cực.

      Nếu khổ thơ đầu ta cảm nhận một tình yêu sắp nảy nở tuyệt vời nhưng tới khổ thơ sau thì ta lại gặp một cuộc tình tan tành chia phôi. Thông qua cách nói nóng gió, Hàn Mặc Tử đã chua chat phủ định người mời mình về thăm thôn Vĩ. Đó là một kể phụ tình bỏ rơi những lời hứa ước, làm tan tành trái tim của kẻ mến thương tin tường dại khờ.

      Người yêu trong mộng của Hàn Mặc Tử lúc thì mời đón dành sẵn một toàn cầu mến thương hy vọng, lúc thì trở thành một kẻ phụ tình phũ phàng rất lạnh lùng. Và thật bất thần con người đấy bỗng dung xuất hiện thật nhân hậu và khoan dung.

“Thuyền người nào đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

      Hình tượng trăng trong thơ Hàn Mặc Tử xuất hiện rất nhiều. Trăng muôn thuở là biểu tượng của hạnh phúc, đặc thù là hạnh phúc lứa đôi. Quá khát khao hạnh phúc nên hai câu thơ của Hàn Mặc Tử tràn trề ánh trăng: bến trăng, sông trăng, thuyền trăng, chở trăng.

      Nhân vật “người nào” ở đây chỉ có thể là người mời Hàn Mặc Tử về thăm thôn Vĩ. Người đấy đang cắm thuyền ở bến sông để hy vọng lấy được nhiều ánh trăng hạnh phúc và sẽ chở trăng về cho thi sĩ tối nay. Đó là sự mến thương cao cả, là sự thấu hiểu tới tường tận những khát khao của Hàn Mặc Tử. Thế nhưng chữ “kịp” ở đây lửng lờ một câu hỏi: liệu có chở kịp trăng về trong tối hôm nay? Có thể kip và cũng có thể ko còn kịp nữa… Tối nay là một khái niệm thời kì ngắn ngủi. Hàn Mặc Tử biết rằng sự sống của mình chỉ còn lại những giây phúc ngắn ngủi ở trần thế, sẽ có người đem hạnh phúc tới cho thi sĩ nhưng nếu tới trễ thì hạnh phúc đấy thật vô nghĩa.

“Mơ khách đường xa, khách đường xa”

      Mở đầu khổ thơ thứ ba là một câu thơ thật đặc thù. Khách vốn đã xa lạ nhưng mà thi sĩ còn lặp tới hai lần sự xa lạ đấy “khách đường xa, khách đường xa”. Thế nhưng mà, lại có một giấc mơ về người khách ko quen đấy. Thực ra đây là người mời Hàn Mặc Tử về thăm thôn Vĩ nhưng thi sĩ hiểu rằng người đấy ngoài tầm tay với của mình. Con người đó càng lúc càng trở thành xa lạ và càng ko níu kéo được nên Hàn lại càng gửi gắm vào giấc mơ. Có thể thấy tâm tư này qua những vần thơ khác của Hàn:

“Người đã đi rồi khôn níu lại

Tình yêu chưa đã, mến chưa bưa

Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi tới dại khờ”.

      Bởi muốn tìm một tình yêu trong mộng để được sống có ý nghĩa trong những phút chốc cuối đời nên tâm trạng của Hàn Mặc Tử luôn có những đối cực. Lúc đầu là hi vọng tràn trề rồi lại trách móc coi người mình yêu là kẻ phụ tình; liền sau đó thi sĩ thấy người con gái mời mình về thăm thôn Vĩ thật chung tình, sẵn sàng cắm thuyền đợi đợi mong ánh trăng hạnh phúc tới cho mình. Tiếp theo, Hàn Mặc Tử vô vọng nhìn người yêu mình như “khách đường xa”. Nhưng cũng liền sau đó, thi sĩ thấy người đấy quay trở lại với mình, cô gái đấy hoàn toàn trong trắng và thánh thiện. Đại từ “em” thật giản dị, thân thiện biết bao:

“Áo em trắng quá nhìn ko ra”

      Câu thơ vừa sáng bừng lên niềm hi vọng thì nó đã cho Hàn Mặc Tử cảm nhận ngay sự vô vọng. Đáng lẽ “áo em trắng quá” thì anh phải nhìn rất rõ em. Thế nhưng áo em càng trắng bao nhiêu thì anh lại càng ko nhìn ra bấy nhiêu. Thực ra anh ko dám nhìn bởi vì em quá trong trắng, thanh cao… Tự ti lúc mến thương là một quy luật. Nhưng tôn thờ để rồi tự ti như Hàn Mặc Tử là do có nguyên nhân hậu cuộc đời riêng. Thi sĩ hiểu hoàn cảnh thực tại của mình, vì thế nhưng mà dù nhân vật “em” trở lại với mình, thi sĩ cũng ko dám yêu. Hàn Mặc Tử phải tự khước từ với tình yêu của mình.

      Câu thơ thứ ba nhuốm màu sắc bi quan của một triết lí nhân sinh:

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”

Nguyễn Gia Thiều đã từng viết:

“Con quay búng sẵn lên trời

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”

      Đời người là một con quay đã búng sẵn, chính bản thân ta cũng ko thể điều khiển được số phận của ta. Trong mối quan hệ với người khác thì ta chỉ nắm bắt được “nhân ảnh” chứ ko thể là chính người đó. Hàn Mặc Tử cũng vậy, thi sĩ hiểu rằng mình ko chủ động được với chính mình, mình ko thể nhìn thấy rõ hình ảnh của người yêu. Thi sĩ hiểu rằng sương khói của cuộc đời đang xóa nhòa “nhân ảnh” của nhân vật “em”… Đó là một nhận thức thật chua chát, ngậm ngùi, nó để lại sự trống vắng như một trong hoang mạc trong tâm hồn Hàn Mặc Tử. Đây chính là nguyên nhân làm cho thi sĩ thốt ra một câu hỏi chơ vơ vô vọng ko có chỗ nào để bám víu:

“Người nào biết tình người nào có đặm đà?”

      Hai đại từ “người nào” ở câu thơ này tạo nên nhiều cách hiểu: ko biết em có hiểu được chính tình yêu của em đặm đà hay ko? Ko biết bản thân anh có biết được tình yêu của chính mình đặm đà ko? Liệu em có biết tình anh đặm đà ko? Liệu anh có biết tình em có đặm đà ko? Một câu hỏi trong thơ nhưng ẩn chứa biết bao nhiêu câu hỏi đằng sau nó, càng hỏi càng thấy “mờ nhân ảnh”, càng vô vọng. Càng tha thiết một tình yêu đặm đà Hàn Mặc Tử càng thấy sự tan vỡ vô vọng với tình yêu. Vì thế nhưng mà cảm hứng chủ đạo của “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là cảm hứng đau xót về một tình yêu vô vọng.

      Mọi sự vô vọng đều cho người ta bi quan, riêng tình yêu vô vọng của Hàn Mặc Tử lại dạy cho ta trị giá nhân văn cao cả. Thi sĩ níu kéo cuộc sống này bằng tình yêu, dù đó là một tình yêu vô vọng. Chúng ta ko gặp hoàn cảnh bi đát như Hàn Mặc Tử, nên chúng ta cần phải biết sống như thế nào, yêu như thế nào trong cuộc đời tuyệt đẹp ở trần thế đáng sống này.

—/—

Với  các bài văn mẫu Mạch xúc cảm trong bài Đây thôn Vĩ Dạ do thomo.vn sưu tầm và biên soạn trên đây, kỳ vọng các em sẽ có thêm những góc nhìn mới mẻ và có cái nhìn tổng quát hơn về  tác phẩm. Chúc các em làm bài tốt!

Đăng bởi: thomo.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Xem thêm chi tiết về Mạch cảm xúc trong bài Đây thôn Vĩ Dạ

Source: THOMO
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận