Phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (hay nhất)

Bạn đang xem: Phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (hay nhất) tại thomo.vn Tuyển tập 900 bài văn mẫu 12 hay nhất với các chủ …

Tuyển tập 900 bài văn mẫu 12 hay nhất với các chủ đề nhiều chủng loại như phân tích, cảm nhận, nghị luận. Cùng tham khảo bài Phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc để hiểu hơn về nội dung tác phẩm.

Phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc – Bài mẫu 1

    Thủ tướng Phạm Văn Đồng là nhà chính trị, ngoại giao tài hoa đồng thời cũng là nhà văn hóa lớn. Ông để lại cho đời nhiều tác phẩm có trị giá. Với những hiến dâng lớn lao cho non sông, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng và nhiều Huân chương cao quý khác.

    Về văn học, Phạm Văn Đồng viết nhiều bài nghị luận rực rỡ về các danh nhân văn hóa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh… Trong đó có bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc.

    Bài văn viết nhân dịp kỉ niệm 75 năm ngày mất của thi sĩ Đồ Chiểu (3-7- 1888) và đăng trên Tạp chí Văn học tháng 7 – 1963. Đây là thời kì đế quốc Mĩ quyết định tài trợ, can thiệp sâu hơn vào trận đấu tranh ở miền Nam. Phong trào đấu tranh chống Mĩ và tay sai của nhân dân miền Nam nổi lên khắp nơi, tiêu biểu là phong trào đồng khởi của nhân dân Bến Tre. Hoàn cảnh lịch sử đó giúp chúng ta hiểu thêm vì sao tác giả Phạm Văn Đồng lại nhấn mạnh thời khắc lúc ông viết bài văn ngợi ca Nguyễn Đình Chiểu.

    Nội dung thâm thúy và mới mẻ nhưng mà tác giả đặt ra trong bài viết là: Nguyễn Đình Chiểu, một tư cách trong sáng, một thi sĩ lớn của dân tộc cần phải được nhận định đúng mực hơn, đầy đủ hơn.

    Bài viết có sức thu hút mạnh mẽ do tiếng nói tác giả sử dụng vừa xúc động, thiết tha, liên kết với nhiều hình ảnh, ngôn từ có khả năng gợi tả, gợi cảm cao, đặc thù là phương pháp nghị luận chặt chẽ và xác đáng.

    Tác giả mở đầu bài viết bằng một nhận định khách quan có tính thời sự, chứa đựng luận đề (chủ đề) của bài viết: Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một thi sĩ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc, nhất là trong lúc này. Lúc này là năm 1963, non sông ta đang bị tạm thời chia cắt làm hai miền. Nhân dân miền Bắc vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa là hậu phương lớn tiếp sức cho nhân dân miền Nam tranh đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược và bè lũ ngụy quyền tay sai bán nước.

    Từ năm 1954 tới 1959, đế quốc Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm triển khai chính sách tố Cộng, ra sức truy tìm, bức hại những người kháng chiến cũ, bắt bớ, tù đày và gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm máu khắp miền Nam.

    Từ năm 1960, Mĩ quyết định tài trợ và can thiệp sâu hơn vào trận đấu. Năm 1964, chúng đưa thêm 16.000 quân lính và sĩ quan Mĩ vào miền Nam. Chỉ một năm sau, con số đó đã tăng lên tới 543.000.

    Trước tình hình đó, phong trào đấu tranh chống Mĩ – ngụy của nhân dân miền Nam nổi lên mạnh mẽ, quyết liệt; tiêu biểu nhất là phong trào đồng khởi ở Bến Tre. Đây là thời khắc cách mệnh miền Nam đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Hoàn cảnh lịch sử trên giúp chúng ta hiểu thêm vì sao Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại nhấn mạnh thời khắc ông viết bài văn ngợi ca thi sĩ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiểu nhằm khẳng định truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, động viên nhân dân cả nước vùng lên xoá sổ bọn bán nước và cướp nước.

    Tác giả đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ để khẳng định tài năng văn học và tấm lòng yêu nước, thương dân vô cùng đáng quý của thi sĩ đất Lục tỉnh Nam Kỳ: Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chuyên chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy. Có người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của Lục Vân Tiên, và hiểu Lục Vân Tiên khá thiên lệch về nội dung và về văn, còn rất ít biết thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống bọn xâm lược Pháp lúc chúng tới lãnh thổ nước ta cách đây một trăm năm!

    Theo tác giả, có hai lí do khiến ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu chưa sáng tỏ trên bầu trời văn nghệ của dân tộc. Lí do thứ nhất: Nhiều người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của truyện thơ Lục Vân Tiên và họ hiểu khá thiên lệch về nội dung, nghệ thuật của truyện. Lí do thứ hai: Phần lớn người đọc biết rất ít về thơ văn yêu nước – một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu.

    Từ đó, tác giả đi tới kết luận; Nguyễn Đình Chiểu là một thi sĩ yêu nước nhưng mà tác phẩm là những trang bất hủ ngợi ca trận đấu đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược phương Tây ngay buổi đầu lúc chúng đặt chân lên non sông chúng ta. Những luận điểm nêu trong phần mở bài này đã được tác giả phân tích và chứng minh để làm sáng tỏ ở phần sau.

    Trong phần thân bài, trước hết tác giả giới thiệu về Nguyễn Đình Chiểu, nhấn mạnh tới khí tiết của một thi sĩ yêu nước, thương dân, trọn đời phấn đấu hi sinh vì nghĩa lớn: Nguyễn Đình Chiểu vốn là một nhà nho, nhưng sinh trưởng ở đất Đồng Nai phóng khoáng, lại sống giữa lúc nước nhà lâm nguy, vua nhà Nguyễn cam tâm bán nước để giữ ngai vàng, nhưng khắp nơi, nhân dân và sĩ phu quả cảm đứng lên đánh giặc cứu nước. Vì mù cả hai mắt, hoạt động của người chiến sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu là thơ văn. Và những tác phẩm đó, ngoài những trị giá văn nghệ, còn quý giá ở chỗ nó soi sáng tâm hồn trong sáng và cao quý lạ thường của tác giả, và ghi lại lịch sử của một thời khổ nhục nhưng lớn lao!

    Tác giả khẳng định: Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương chói sáng về ý thức yêu nước thiết tha và thái độ căm thù giặc thâm thúy. Ý kiến của ông là dùng thơ văn làm vũ khí tranh đấu chống xâm lược, ngợi ca chính nghĩa và truyền thống đạo lí tốt đẹp của nhân dân lao động, phê phán những kẻ lợi dụng văn học để làm những điều xằng bậy, xấu xa. Ý trên đã được trình bày qua hai đoạn văn ngắn gọn và cô đúc: Cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là của một chiến sĩ hi sinh phấn đấu vì một nghĩa lớn. Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn tranh đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng:

Học theo ngòi bút chí công

Trong thi cho ngụ tấm lòng Xuân thu

    Đối với Nguyễn Đình Chiểu, cầm bút, viết văn là một thiên chức. Và Nguyễn Đình Chiểu trọng chức trách của mình chừng nào thì càng khinh miệt bọn lợi dụng văn học để làm việc phi nghĩa chừng nấy:

Thấy nay cũng nhóm văn học

Vóc dê da cọp khôn lường thực hư!

    Sau lúc khẳng định cuộc đời và ý kiến sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, tác giả tuần tự lấy thơ văn yêu nước và tác phẩm Lục Vân Tiên để chứng minh.

    Lúc phân tích thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Đồng đã đặt vào bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ của nhân dân Nam Bộ với phong trào chống Pháp do Trương Định, Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo và trong dòng chảy của văn thơ yêu nước thời đoạn này để thấy rõ nguồn mạch phát sinh cảm hứng là thế tất, đồng thời khẳng định vị trí lá cờ đầu của Nguyễn Đình Chiểu trong thơ văn yêu nước chống Pháp thời kì cận kim cuối thế kỉ XIX.

    Tác giả nhận xét về thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu bằng một luận điểm ngắn gọn, cô đúc: Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh, liệt và dẻo dai của nhân dân Nam Bộ từ 1860 về sau, suốt hai mươi năm trời.

    Vì sao tác giả lại mở đầu phần này bằng việc tái tạo hoàn cảnh lịch sử nước ta trong thời đoạn lịch sử sau năm 1860? Bởi vì một nhà văn chỉ thực sự lớn lúc tác phẩm của nhà văn đó phản ánh một cách trung thành những đặc điểm cơ bản nhất của một thời đoạn tịch sử có ý nghĩa trọng đại đối với đời sống của non sông, nhân dân. Riêng điểm này, Nguyễn Đình Chiểu đã xứng đáng là ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc.

    Trong lúc vua quan nhà Nguyễn thua trận đầu hàng cắt đất dâng cho giặc thì các từng lớp nhân dân Nam Bộ lúc bấy giờ, nhân dân lao động và các bậc sĩ phu đều kiên quyết vùng dậy đánh giặc cứu nước. “Giặc tới nhà phụ nữ phải đánh”. Phong trào khởi đầu dấy lên ở miền Đông, sau lan rộng khắp nơi ở “Lục tỉnh”, trở thành trận đấu tranh nhân dân rộng lớn, nhiều nơi, nhiều lúc sôi nổi và mạnh mẽ lạ thường, khiến cả quân thù cũng ko tiếc lời tỏ lòng khâm phục…

    Tác giả gọi thời kì Nguyễn Đình Chiểu sống là một thời khổ nhục nhưng lớn lao. Vì thế, sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu vừa là tấm gương phản chiếu một thời đại, vừa là lời kêu gọi nhân dân vùng lên đấu tranh và ngợi ca những nghĩa sĩ dũng cảm, đồng thời cũng là lời than khóc cho những người hùng thất thế đã bỏ mình trong trận đấu đấu vì nước, vì dân.

    Tác giả khẳng định: Cho nên ko phải trùng hợp nhưng mà thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, một phần lớn là những bài văn tế, ngợi ca những người người hùng suốt đời tận trung với nước và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân.

    Song, văn học chân chính còn phải tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của thời đại. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là như thế. Phạm Văn Đồng khẳng định: Tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu lớn lao bởi sức khích lệ mạnh mẽ cho trận đấu đấu chống thực dân, bằng cách làm cho lòng người rung động trước những hình tượng sinh động và não nùng của những con người suốt đời tận trung với nước, trọn nghĩa với dân, giữ vẹn khí phách hiên ngang cho dù chiến bại.

    Mặt khác, thực chất của văn học là thông minh. Văn học đóng góp cho cuộc đời bằng những cái lạ mắt, chưa từng thấy ở các tác phẩm trước đó hay cùng thời đó. Đó là lí do khiến Phạm Văn Đồng nói tới bài Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc nhiều nhất và hào hứng nhất.

    Bài văn nghị luận Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc được tác giả viết nên ko chỉ bằng một trí tuệ sáng suốt, thâm thúy nhưng mà còn bằng một xúc cảm mạnh mẽ khác thường. Sự liên kết giữa con tim và khối óc đã khiến tác giả viết được những câu văn hay nhất, làm rung động lòng người. Nhưng tác giả đã ko viết về Nguyễn Đình Chiểu với nỗi tiếc thương của một người hoài cổ nhưng mà tác giả luôn nhìn người xưa từ hôm nay và đặt ra vấn đề vì cuộc sống hôm nay. Chính vì thế nhưng mà những con người đang sống hết mình trong trận đấu đấu hào hùng chống đế quốc xâm lược ngày càng có điều kiện để thông cảm hơn với một con người cũng đã sống hết mình trong công cuộc chống thực dân Pháp oanh liệt nhưng mà đau thương thuở thuở đầu. Điều đó cũng đã làm cho Nguyễn Đình Chiểu trở thành ngôi sao càng nhìn càng thấy sáng.

    Nghệ thuật của đoạn văn này trình bày ở phương pháp lập luận chặt chẽ, ở bố cục rõ ràng, mạch lạc, ở tiếng nói trong sáng, tự nhiên với những lời bình súc tích, sắc sảo, mới mẻ về bài Văn nổi tiếng: Ngòi bút, tức là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả, thật là sinh động và não nùng, thiện cảm của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân, vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người người hùng cứu nước.

    Tác giả dẫn một đoạn của bài Văn tế, so sánh với Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi rồi bình: Hai bài văn, hai tình cảnh, hai thời buổi, nhưng một dân tộc. Bài cáo của Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ngợi ca những chiến công oanh liệt chưa từng thấy, biểu dương thắng lợi làm rạng rỡ nước nhà. Bài Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc là khúc ca những người người hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang: “Sống đánh giặc thác cũng đánh giặc… muôn kiếp nguyện được trả thù kia…”. Kết thúc đoạn văn này, tác giả bộc bạch lòng tưởng nhớ tới hương hồn của thi sĩ yêu nước cùng những nghĩa quân đã quả cảm hi sinh cho nghĩa lớn: Có nhẽ dưới suối vàng, vong linh của Nguyễn Đình Chiểu và những nghĩa quân lúc bấy giờ, ngày nay phần nào đã được hả dạ. Phần tiếp theo, tác giả giới thiệu truyện Lục Vân Tiên, tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu có tầm tác động sâu rộng trong dân gian, nhất là ở miền Nam và chỉ ra một số nhận xét chưa đúng về truyện Lục Vân Tiên. Ông chứng minh trị giá của tác phẩm này bằng cách phân tích cái hay, cái đẹp về cả nội dung lẫn nghệ thuật: Đúng, đây là một bản trường ca ngợi ca chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ngợi ca những người trung nghĩa! Tác giả cũng nhận xét một cách khách quan là: Tất nhiên, những trị giá luân lí nhưng mà Nguyễn Đình Chiểu ngợi ca, ở thời đại chúng ta, theo ý kiến của chúng ta thì có phần đã lỗi thời… về mặt nghệ thuật của tác phẩm Lục Vân Tiên, thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng chỉ ra rằng: về văn học của Lục Vân Tiên, phải quan tâm đây là một chuyện “kể”, chuyện “nói”. Tác giả cố ý viết một lối văn “nôm na”, dễ hiểu, dễ nhớ, có thể truyền bá rộng rãi trong dân gian. Cho nên, dù có chỗ này chỗ khác lời thơ chưa được hay, chưa được trau chuốt thì cũng là điều khó tránh khỏi. Dẫu sao đôi chỗ sơ sót về văn học ko thể làm giảm trị giá văn nghệ của bản trường ca thật là lôi cuốn từ đầu tới cuối. Nhận định trên đây cho thấy tác giả là người luôn giữ được sự trung thực và công bình trong lúc nghị luận.

    Bài viết kết thúc bằng những câu văn trình bày tình cảm mến yêu và lòng hàm ân chân tình: Nhân kỉ niệm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (ngày 3 tháng 7 năm 1988), trong lòng chúng ta, chúng ta hãy đốt một nén hương để tưởng nhớ người con vinh quang của dân tộc.

    Trị giá bài nghị luận văn học Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của thủ tướng Phạm Văn Đồng ko chỉ nằm ở nội dung thâm thúy, xúc động nhưng mà còn ở phương pháp lập luận khúc chiết, mạch lạc, ở tiếng nói trong sáng, giàu xúc cảm, có sức thuyết phục cao. Bằng hiểu biết thấu đáo, cách nhìn, cách nghĩ mới mẻ và tận tâm của một người gắn bó hết mình với nước, với dân, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã làm sáng tỏ mối liên hệ mật thiết giữa thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ và với thời đại hiện nay. Tác giả hết lòng ngợi ca Nguyễn Đình Chiểu, một thi sĩ trọn đời dùng cây bút làm vũ khí tranh đấu cho dân, cho nước: Thi sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là một ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc.

    Những bài văn mẫu phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc

>> Soạn + Gợi ý Câu hỏi trên lớp bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc

Phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc – Bài mẫu 2

    Nói tới những con người tài hoa, có công với non sông ta, ko thể ko nhắc tới Phạm Văn Đồng. Ông ko chỉ là một nhà chính trị tài hoa, nhưng mà còn là một nhà văn hóa lớn. Ông đã đóng góp rất nhiều cho non sông, để lại tiếng vang lớn trong lòng tất cả người dân Việt Nam. Đối với ông, những danh nhân văn hóa lớn của Việt Nam đều là những người ông coi trọng và nể sợ. Ông đã viết nên tác phẩm “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc” vào ngày tưởng vọng 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu, như để tưởng nhớ tới thi sĩ. Đọc tác phẩm, người đọc ko chỉ cảm thu được sự tài hoa của Nguyễn Đình Chiểu, nhưng mà tác phẩm còn là một áng văn nghị luận mẫu mực, để lại ấn tượng thâm thúy trong lòng người đọc.

    Tác phẩm “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc” ko chỉ mang ý nghĩa tưởng nhớ tới Nguyễn Đình Chiểu, nhưng mà còn mang ý nghĩa khơi dậy ý thức yêu nước của nhân dân, và trình bày ý nghĩa trong mỗi quan hệ giữa những người nghệ sĩ và những điều chân thực nhất trong cuộc sống.

    Ngay từ cách đặt nhan đề, Phạm Văn Đồng đã cho người đọc cảm nhận đây là một áng văn nghị luận mẫu mực. Nhan đề như một luận đề vừa bao quát lại gợi hình ảnh khẳng định vấn đề, trình bày rõ nội dung muốn nói tới của tác phẩm. Cách sắp xếp bố cục bài viết của tác giả cũng rất rõ ràng, chia làm ba phần rất khoa học.

    Trước tiên, tác giả đặt vấn đề bằng một câu luận điểm: Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một thi sĩ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ dân tộc, nhất là trong lúc này. Phạm Văn Đồng nhận định rất mới mẻ và khác lạ về Nguyễn Đình Chiểu bằng cách so sánh văn học của ông như vì sao, nhưng con mắt phải chuyên chú nhìn thì mới có thể thấy rõ nét. Hơn nữa, nhiều người chỉ biết tới Nguyễn Đình Chiều qua tác phẩm Lục Vân Tiên nhưng mà ko biết rằng ông là một thi sĩ văn với những tác phẩm giàu tình yêu nước, những khúc ca hùng tráng về ý thức chống thực dân. Có thể thấy, Phạm Văn Đồng đã thẳng thẳn nhìn vào vấn đề, lý hương nguyên nhân một cách cụ thể rõ ràng. Điều này góp phần khẳng định về vị trí của Nguyễn Đình Chiểu, định hướng lại cho nhiều người biết về thơ văn của ông, đồng thời cũng phê phán những người chưa thực sự hiểu biết về văn học của Nguyễn Đình Chiểu.

    Tiếp theo, tác giả khởi đầu khắc phục vấn đề, đưa ra những luận điểm bổ sung để chứng minh cho luận điểm trước đó. Ở luận điểm trước, tác giả nói đền cuộc đời và quan niệm văn học của Nguyễn Đình Chiểu. Cả cuộc đời của ông hy sinh, là một người chiến sĩ vì nghĩa lớn. Dù ông bị mù ko thể cầm súng nhưng đã dùng văn học đẻ chống lại quân thù. Với ông, văn học chính là dụng cụ để vạch trần những mưu mô xấu xa của những kẻ lợi dụng văn học làm điều xấu. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một tấm gương sáng để tất cả mọi người thấy được trị giá của văn học nghệ thuật đối với mặt trận văn hóa tư tưởng.

    Ở luận điểm thứ hai, tác giả đặt các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trên cái nền của hoàn cảnh lịch sử, nhằm làm nổi trội trị giá hiện thực của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đối với ông mang trị giá rất lớn, đã làm sống lại những khổ nhục nhưng lớn lao của quá trình chống lại quân xâm lược bằng những hình tượng văn học trò động và thâm thúy. Với những tác phẩm như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, bài thơ Xúc cảnh, Nguyễn Đình chiểu đã góp phần khích lệ mạnh mẽ cho trận đấu đấu chống thực dân.

    Tới luận điểm cuối cùng, Phạm Văn Đồng đã nói tới trị giá của tác phẩm Lục Vân Tiên. Đó là một bản trường ca ngợi ca chính nghĩa cùng với những đạo đức đáng quý trọng ở đời. Những nhân vật trong tác phẩm đó đều là những con người đáng trân trọng, mặc dù trong nguy khốn vẫn quyết âm theo đuổi nghĩa lớn, đây là điều nhưng mà người ta phải hiểu để có thể cảm thu được hết trị giá nghệ thuật của tác phẩm. Vậy nhưng Phạm Văn Đồng cũng ko quên nhắc tới những mặt còn hạn chế của Lục Vân Tiên, một số vấn đề nằm ở lời văn chưa thực sự trọn vẹn, nhưng ko nên vì điều đó nhưng mà nhận định sai trị giá của tác phẩm. Đây chính là nghệ thuật đòn bẩy tài tình của Phạm Văn Đồng lúc ông lập luận bằng sự hạ xuống, rồi lại nâng tầm trị giá nghệ thuật của Lục Vân Tiên, khẳng định rằng đó chính là một tác phẩm có trị giá nghệ thuật rất lớn đối với nhân dân.

    Kết thúc vấn đề, Phạm Văn Đồng dùng một luận điểm có tính chất kết luận. Ông kết luận rằng tất cả sự nghiệp cũng như đời sống của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng bất kể dù ở trong lĩnh vực văn học nghệ thuật hay đối với nhân dân.

  Ở tác phẩm này, Phạm Văn Đồng ko viết về Nguyễn Đình Chiểu với giọng điệu khô khan của người ngoài cuộc, nhưng mà ông phát huy trí tưởng tượng cùng xúc cảm của mình để đắm vào những năm tháng tuy thống khổ nhưng vô cùng hào hùng của Nguyễn Đình Chiểu. Ông cũng bộc bạch lòng tiếc thương vô bờ đối với Nguyễn Đình Chiểu, cùng với sự thông cảm, trân trọng những trị giá văn hóa nghệ thuật của nhà văn học kiệt xuất Nguyễn Đình Chiểu.

   Có thể khẳng định rằng, tác phẩm “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” là một bài luận xuất sắc, đạt chuẩn mực văn học cả về mặt hình thức và nội dung, mang tới một trị giá văn học thâm thúy.

Phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc – Bài mẫu 3

    Năm 1963, trên miền Bắc nước ta, lễ kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu đã được tổ chức hết sức trọng thể. Đây được xem là một cái mốc giàu ý nghĩa của tiến trình nghiên cứu về thi sĩ yêu nước lớn này của dân tộc.

    Trong số những bài viết ra đời nhân dịp đó, tiểu luận Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của Phạm Văn Đồng có một vị trí khá đặc thù, do cách đặt vấn đề và khả năng gợi mở hướng nghiên cứu mới của nó. Chính lời mở và lời kết của áng văn đã cho thấy rõ điểu này. Lời mở: “Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một thi sĩ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc, nhất là trong lúc này”. Và lời kết: “Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mệnh của người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá và tư tưởng”. Qua những câu vừa trích, có thể hiểu rằng trước đó, sự nghiệp văn học của Nguyễn Đình Chiểu còn chưa được nhận định một cách toàn diện và thơ văn yêu nước của ông còn chưa được chú ý nghiên cứu cho đúng với tầm nhưng mà nó có. Thêm nữa, trong lúc công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà đang yêu cầu việc khơi dậy lòng yêu nước và ý chí tranh đấu của toàn dân, đồng thời yêu cầu xây dựng một nền văn nghệ mới phục vụ sự nghiệp cách mệnh của dân tộc đang được đặt ra trên một tầm độ mới, việc khai thác nội dung yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu càng có một ý nghĩa hết sức quan trọng.

    Viết về một vấn đề nghiêm trang tương tự, người ta có thể chọn một kiểu trình diễn duy lí, ít màu sắc biểu cảm. Nhưng ở đây, ngay từ đầu, tác giả đã biểu lộ xúc cảm nồng nàn của mình lúc nêu những yêu cầu cần thiết đối với việc nhận định trị giá thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Cách nói “ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu”, cách ví von “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chuyên chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy” một mặt dễ gây ấn tượng vì sự tươi mát của giọng văn và vì liên tưởng hợp pháp, mặt khác, phản ánh được khá trung thực sự trân trọng, yêu quý rất mực của tác giả đối với nhân vật được ông nói tới. Phải nói rằng một kiểu nhập đề tương tự có thể tạo được những hiệu quả tác động rất tốt đẹp. Trước lúc nhất trí với người viết về những lập luận, người ta đã san sớt với ông về một thái độ – thái độ đối với thi sĩ của dân tộc và thái độ đối với người tiếp thu áng văn của chính mình.

    Nội dung quan trọng nhất của bài viết là làm sáng tỏ trị giá to lớn của bộ phận thơ văn yêu nước trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Đình Chiểu. Những lời nhận định cao nhất, những lời ngợi ca nồng nhiệt nhất đã được nêu lên: “thơ văn yêu nước của Nguyễn Đinh Chiểu, khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống bọn xâm lược Pháp lúc chúng tới lãnh thổ nước ta”, “tác phẩm là những trang bất hủ”, “Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca những người người hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang”, “trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu còn có những đoá hoa, những hòn ngọc rất đẹp”,… Tuy nhiên, nếu bài viết chỉ có những lời ngợi ca chung chung thì rất khó thuyết phục người đọc. Do hoàn toàn ý thức được điều này, Phạm Văn Đồng rất chú ý nêu và phân tích các dẫn chứng cụ thể. Tác giả đã vừa làm rõ mối quan hệ thống nhất giữa tư cách con người thân thơ và thơ văn của ông, lại vừa chú ý đặt bộ phận thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu vào đúng bối cảnh nó ra đời để đưa ra những kết luận cần thiết. Những đoạn nêu tiểu truyện thi sĩ, tái tạo ko khí lịch sử một thời được viết rất súc tích và giàu cảm hứng. Thái độ yêu ghét rành mạch, rõ ràng luôn được biểu lộ, khiến lịch sử sống dậy có hình, có khối, phập phồng hơi thở. Rõ ràng người viết đã thiết lập được sự “kết nối” giữa xưa và nay, giúp người đọc cảm thu được thâm thúy rằng cái mạch sống của dân tộc đang chảy xuyên qua thời kì để trao tới cho chúng ta ngày nay những thông điệp giàu ý nghĩa.

    Phạm Văn Đồng đặc thù chú ý tới mối quan hệ giữa thi sĩ Nguyễn Đình Chiểu với nhân dân, dân tộc. Ko phải trùng hợp nhưng mà các từ “nhân dân”, “dân tộc”, “non sông” được nhắc tới với tần số cao tương tự trong bài. Theo ý thức của bài viết, ta hiểu rằng nhờ sống gắn bó với nhân dân, dân tộc, nhờ biết nói lên những ý nguyện thiết tha của nhân dân, dân tộc nhưng mà Nguyễn Đình Chiểu được nhìn nhận như một tấm gương đạo nghĩa sáng ngời và thơ văn ông có được sức sống mãnh liệt tới thế. Tác giả cũng ko quên nhắc tới quan niệm văn học tiến bộ, đúng mực của Nguyễn Đình Chiểu để làm nổi trội cái luận điểm về sự chủ động của thi sĩ lúc ông hướng ngòi bút của mình vào việc “chở đạo”, “đâm mấy thằng gian”. Xét sâu vào mục tiêu chính luận của bài viết, có thể thấy những điểm nhấn nhưng mà tác giả tạo ra như trên là hoàn toàn hợp pháp. Cương vị, trách nhiệm xã hội của tác giả cũng theo đó nhưng mà được trình bày một cách sáng tỏ, công khai.

    Với tư cách là một người đọc nhạy cảm và am tường văn học, tác giả bài viết đã có được sự giảng nghĩa đích đáng về một đặc điểm lớn của văn thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Đó là: chiếm phần lớn trong sáng tác của ông là “những bài văn tế, ngợi ca những người người hùng suốt đời tận trung với nước, và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân”. Trong một thời “khổ nhục nhưng lớn lao”, “oanh liệt và đau thương”, những tiếng “than khóc” cũng là những khúc ca – “khúc ca những người người hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang”. Đặt bài viết vào bối cảnh một thời nhưng mà giới nghiên cứu vẫn còn hơi nghi ngờ đối với âm điệu bi thương trong sáng tác của nhiều thi sĩ quá khứ, sự nhận định có tính chất khẳng định như trên của Phạm Văn Đồng là rất có ý nghĩa, có thể gợi mở được nhiều điều về phương pháp luận nhận định văn học.

    Phần sau của bài viết được dành để nói về Lục Vân Tiên, một “tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu, rất phổ thông trong dân gian, nhất là ở miền Nam”. Mặc dù Lục Vân Tiên đã được thích thú xứng với trị giá của nó, và vấn đề đáng quan tâm hơn lúc này là nhận định đúng tầm vóc của bộ phận văn thơ yêu nước trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, nhưng hẳn tác giả thấy việc nói thêm về Lục Vân Tiên ở đây ko phải là ko cần thiết. Vấn đề là phải thấy được thực chất sức lôi cuốn cúa truyện thơ này. Theo tác giả, nếu chỉ nhìn Lục Vân Tiên như một “bản trường ca ngợi ca chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ngợi ca những người trung nghĩa” thì đúng nhưng chưa đủ, bởi nó dễ đánh đồng trị giá của tác phẩm với trị giá của luân lí nhưng mà tác phẩm đề cao trên bề nổi. Nếu nhìn qua, ta dễ tưởng rằng nhiều nhân vật của Lục Vân Tiên hành xử ko khác gì những tư cách mẫu mực của đạo đức phong kiến, nhưng sự thực, họ là “những con người có ruột gan, xương thịt” và thực chất đạo lí sống của họ là đạo lí sống của nhân dân. Tác giả khẳng định: “Vì những lẽ đó họ thân thiện chúng ta và câu chuyện của họ làm chúng ta xúc cảm và thích thú”. Tới bây giờ, có nhẽ luận điểm này của Phạm Văn Đồng vẫn là một luận điểm lạ mắt, còn nguyên trị giá khám phá.

    Kế bên việc thực sự hiểu và đồng cảm với Nguyễn Đình Chiểu, tác giả cũng tỏ ra nắm vững lịch sử tiếp thu tác phẩm Lục Vân Tiên. Tuy ko phân tích kĩ cái hay của lời văn ở truyện thơ này nhưng tác giả tỏ rõ quan αđiểm khẳng định của mình đối với nó. Những câu thơ được Phạm Văn Đồng dẫn ra quả là những câu đầy vang vọng, ngập tràn chất thơ, thực thụ là thành phầm của một tài năng nghệ thuật lớn. Phải chăng, từ những điểu được trình diễn cuối bài viết, người đọc có thể nghĩ tới một tiêu chí nhận định ko cứng nhắc về cái gọi là phẩm tính văn học của một sáng tác thơ ca? Văn hay hay ko hay, sự nhận định đó nhiều lúc còn tuỳ thuộc vào cách đọc, cách hiểu về đặc trưng thi pháp của một sáng tác.

    Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc quả là một bài nghị luận văn học có trị giá. Ngoài việc chứa đựng những khám phá đáng trân trọng đối với thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, nó còn mang tính chất của một lời kêu gọi hướng về từng lớp văn nghệ sĩ, mong họ hết lòng đem ngòi bút của mình phục vụ nhân dân, phục vụ cách mệnh. Đặc trưng, nó cũng đặt nền tảng cho việc xác lập một ý kiến nhận định đúng mực đối với các hiện tượng văn học của quá khứ. Bài viết thực sự đã kết tinh được những ưu điểm thường thấy của văn nghị luận Phạm Văn Đồng: chứa chan tâm huyết đối với các vấn đề lớn của non sông; lí trí và tình cảm quyện chặt vào nhau trong mỗi dòng văn; tạo được sự thăng bằng giữa những đề xuất thiết thực và những gợi mở về một trục đường đi tới các đích xa…

>> Xem thêm: Hoàn cảnh ra đời tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu – Ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc

…/…

Trên đây là các bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc do thomo.vn sưu tầm và biện soạn, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: thomo.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Xem thêm chi tiết về Phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc

(hay nhất)

Source: THOMO
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận