Tóm tắt tác giả, tác phẩm Người lái đò sông Đà

Bạn đang xem: Tóm tắt tác giả, tác phẩm Người lái đò sông Đà tại thomo.vn Đề bài: Tóm tắt tác giả, tác phẩm Người lái đò sông Đà Trả lời: 1. Tóm tắt tác …

Đề bài: Tóm tắt tác giả, tác phẩm Người lái đò sông Đà

Trả lời:

1. Tóm tắt tác giả Nguyễn Tuân

1.1 Tiểu truyện

Nguyễn Tuân (1910 – 1987) ông sinh ra và lớn lên tại thị thành Hà Nội. Là một nhà văn nổi tiếng ở Việt Nam, sở trường của ông là thể loại tùy bút và ký, ông nổi tiếng rằng bậc thầy trong việc sử dụng và thông minh tiếng Việt.

Nguyễn Tuân trưởng thành trong một nhà Nho lúc Hán học đã suy vong. Cha của ông tên Nguyễn An Lan – một nhà nho tài hoa và yêu nước sống dưới cơ chế thực dân phong kiến. Ngay từ lúc nhỏ Nguyễn Tuân đã chịu tác động rất nhiều từ cha của mình. Thời niên thiếu cuộc sống gia đình của Nguyễn Tuân rất vất vả thế nên ông phải di trú đi nhiều tỉnh không giống nhau và nơi ông vạn thọ nhất là Thanh Hóa.

– Năm 1929, lúc đang học Thành Chung Nam Định ông bị đuổi học.

– Sau đó, ông bị đi tù vì sang biên giới Thái Lan ko có giấy phép.

– Sau lúc ra tù, ông mở đầu sự nghiệp văn học.

– Năm 1945, ông tận tình tham gia cách mệnh và kháng chiến.

– Năm 1948 – 1957, ông là Tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam.

1.2 Sự nghiệp văn học

Nhà văn Nguyễn Tuân mở đầu sáng tác từ năm 1935, tuy nhiên các tác phẩm của ông chưa được thẩm định cao. Cho tới năm 1938, Nguyễn Tuân mới gây ấn tượng với một số tác phẩm xuất sắc, tiêu biểu là Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua, Một chuyến đi.

– Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất lạ mắt và thâm thúy:

+ Trước Cách mệnh tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ “ngông”: mỗi trang viết của ông đều muốn chứng tỏ tài hoa, uyên bác. Và mọi sự vật được mô tả ở phương diện thẩm mỹ. Ông đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại gọi là Vang bóng một thời.

+ Sau Cách mệnh tháng Tám, ông ko đối lập quá khứ với hiện nay. Theo ông, cái đẹp có ở cả quá khứ, hiện nay và tương lai; tài hoa có ở tư nhân đại chúng.

+ Nguyễn Tuân theo “chủ nghĩa xê dịch”. Vì thế ông là nhà văn của những tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, và những phong cảnh tuyệt mỹ.

2. Tóm tắt Người lái đò sông Đà

Từ thượng nguồn sông Đà đã mang vẻ dữ dội của đại nghìn: dựng đá vách thành, chỉ lúc đúng ngọ mới thấy mặt trời; sóng đá dữ dội dàn thành các thạch trận xô nhau liên tục, dữ dội hơn trông Đà giang như sôi lên sùng sục, tiếng thác đá ở đây thì như nghìn con trâu mộng giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa. Có lúc sông Đà cũng dịu dàng: Sông Đà tuôn dài như áng tóc trữ tình,mang màu xanh ngọc bích và màu đỏ phù sa chứ ko có màu đen như Pháp nói; sông Đà lại giống như một cố tri lâu ngày gặp lại; hai bên bờ sông Đà yên ắng nhưng đầy sức sống. Trên vẻ đẹp của Tây Bắc đó hình ảnh người lái đò xuất hiện đầy nghệ sĩ, kiêu hùng dù rất bình dị đời thường, Ông lái đò vượt qua ba thạch trận với nhiều cửa tử; ngày nào cũng đấu tranh với sông Đà dữ dội, nhưng đêm trở về với những thứ bình dị, khiêm tốn.

Ngoài ra, các em cùng thomo.vn phân tích cụ thể tác phẩm Người lái đò sông Đà hơn nhé!

Phân tích Người lái đò sông Đà – Bài mẫu 1

Với bài kì nổi tiếng “người lái đò sông Đà” – rút từ tập “tùy bút sông Đà” xuất bản năm 1960, Nguyễn Tuân muốn xưng tụng ông lái đò tài hoa trì dựng trên sông tự nhiên bạo liệt, và tiếng nói Nguyễn Tuân lại hùa nhau xưng tụng tác giả của nó như một ông tài bậc thầy lèo lái con thuyền chữ trên dòng sông Thi ko kém thác ghềnh. Chính từ áng kỳ này, người nghệ sĩ vốn nổi tiếng tài hoa uyên bác từ trước cách mệnh tháng 8 nay lại có dịp trổ ra một phong cách nghệ thuật đầy khía cạnh thú vị trước 1 cuộc sống đã thay đổi. Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp nhiều chủng loại vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và ca tụng người lái đò giản dị nhưng mà kì vĩ trên dòng sông.

Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của dân tộc, một nghệ sĩ tài hoa suốt đời đi tìm, và tôn vinh cái đẹp. Ông có vị trí quan trọng và đóng góp ko nhỏ đối với văn học hiện đại: xúc tiến thể tùy bút, bút kí văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao, làm phong phú thêm tiếng nói văn học dân tộc, đem lại cho nền văn xuôi hiện đại một phong cách nổi trội, tài hoa và lạ mắt.

Với chất tài hoa tài tử sẵn có trong một tâm hồn nghệ sĩ yêu cái đẹp, một bộ óc uyên bác và lối hành văn cầu kì, lạ mắt, Nguyễn Tuân gây ấn tượng với người đọc bởi những tác phẩm cực đẹp. Đối với ông, đã đẹp là phải đẹp tới toàn mĩ, đã dữ dội là phải dữ dội tới khác thường, tới tột đỉnh. Và trong một chuyến đi khó khăn và đầy hào hứng tới vùng Tây Bắc rộng lớn, xa xôi, ông đã tìm thấy cho mình một “nàng thơ” hoàn mĩ: sông Đà với hai “thái cực” tranh chấp tới mê hoặc: hung bạo, dữ dội nhưng mà trữ tình, xinh tươi.

Sự hung bạo của Đà giang đã được Nguyễn Tuân trình bày một cách rất tài tình trong tác phẩm. Viết về Đà giang, ngòi bút của Nguyễn Tuân vô cùng phóng túng, thoải mái bởi “Người lái đò sông Đà” được viết bằng thể loại tùy bút. Ông chẳng khác nào một nhà quay phim lão luyện. Có lúc ống kính của nhà văn tiếp cận con sông Đà từ phía viễn cảnh. Từ trên cao, Nguyễn Tuân nhìn thấy con sông Đà dài ngòng ngoèo như một sợi dây thừng.

Có đôi lúc, ống kính của nhà văn lia vào để quay cận cảnh từng quãng sông hẹp, cắt từng đoạn sông để mô tả cái sự hung bạo của những đoạn sông với hình ảnh “đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ đó chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời.” Thậm chí có những đoạn “vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách.

Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”. Ấn tượng hơn nữa là việc “ngồi trong khoang đò qua quãng đó, đang mùa hè nhưng mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đang ở hè một cái ngõ nhưng mà ngóng vọng lên một quang cảnh cửa sổ nhà nào ở tầng nhà thứ mấy vừa tắt phụt đèn điện. Và phong cách lạ mắt của Nguyễn Tuân còn được trình bày qua góc nhìn điện ảnh được sử dụng để cảm nhận, tạo cho người đọc một ấn tượng về vẻ đẹp của sự hùng vĩ nhưng mà tự nhiên Tây Bắc đã mang lại.

Những quãng ghềnh thác hãy còn đáng sợ ở cái dữ dằn của gió – nước: quãng mặt ghềnh Hát Loong, dài hàng cây số, gió phối hợp với nước, với đá, với sóng tạo nên những cơn xoáy thật kinh hãi: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió ghùn ghè suốt năm suốt tháng như lúc nào cũng đòi nợ xuýt”. Cái dữ dội, hung bạo của ghềnh thác được mô tả thành công và sinh động như đang hiện hữu trước mắt người đọc bởi nghệ thuật tài tình của Nguyễn Tuân với hàng loạt các động từ mạnh, câu văn nhiều dấu phẩy liên tục tạo nên sự liệt kê trùng điệp của hành động “sô” và phần nào dựng nên nhịp độ lập cập, dồn dập vừa như cái dữ dội, của dòng nước nhưng mà còn như tiếng tim đập của người đi trên sông.

Tương tự rõ ràng ở nơi đó lòng sông rất hẹp, độ dốc của con thác rất cao, nhiều luồng chết, vực xoáy. Viết về con sông Đà hung bạo, tác giả sử dụng những câu văn rất ngắn, huy động chủ yếu tri thức võ thuật và quân sự để mô tả sự vận động của dòng nước. Ông cũng cảm nhận con sông bằng nhiều giác quan để kích thích trí tưởng tượng của độc giả độc giả. Bởi vậy, con sông Đà hiện lên là một nhân vật có tính cách và cả tiếng nói.

Ta còn thấy Nguyễn Tuân tập trung vào mô tả sự hung bạo của Đà giang ở những hút nước với cách liên tưởng vô cùng táo tợn. Ở những cái hút nước giống như những cái giếng bê tông người ta thả xuống để sẵn sàng làm móng cầu: “trên những cái hút nước đó cũng đang quay lư lừ những cánh quạ đàn”. Nước ở đó cứ “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, có lúc lại nghe rờn rợn như tiếng “rót dầu sôi”. Sông Đà ko khác gì một loài thú dữ đầy ranh ma, chực chờ vồ lấy những chiếc thuyền mỏng manh. “Cho nên ko một chiếc thuyền nào dám men gần cái hút nước đó…

Bè gỗ ngông nghênh qua đây vô ý là bị hút nước đó lôi tuột xuống, có chiếc thuyền bị nó giồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm dưới lòng sông tới mười phút sau, mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”. Những so sánh, ví von “như cửa cống bị sặc”, “như cái giếng bê tông”… đầy gợi hình, gợi cảm của tác giả gây cảm giác rất mạnh làm cho người đọc như nghe thấy, nhìn thấy cận cảnh cái hung tợn của sông Đà nhưng mà thót tim lại. Thế nhưng, giống như đang cùng người đọc ngồi cùng một chiếc thuyền qua sông, Nguyễn tuân lại đưa người đọc tới những cái kinh rợn hơn nữa của dòng sông Đà.

Trước hết là những âm thanh của tiếng thác gào rùng rợn, hoang dại: con sông Đà đã trở thành một loại thủy quái vừa tàn bạo, vừa nham hiểm: “Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn nhưng mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một nghìn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lau, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bừng bừng”. Ở đoạn văn này, tác giả đã huy động rất nhiều giải pháp nghệ thuật như nhân hóa, liên tưởng, so sánh, sử dụng hàng loạt động từ mạnh khiến hình ảnh sông Đà thật kinh rợn như một nhân vật mang tâm địa hiểm ác với cái kiểu khôn khéo, ranh ma.

Tiếp tới là sự hung bạo, dữ dằn của đá sông Đà, đó là những cửa tử đang phục kích ẩn náu để gieo rắc kinh hoàng cho người lái đò. Bằng tri thức sâu rộng về quân sự, võ thuật, thể dục, thể thao và điện ảnh, Nguyễn Tuân đã phác họa nên một trận đấu đầy gay cấn như một quyển binh pháp về đánh trận trên sông Đà. Đá ở đây được phân thành ba tuyến và năm cửa, bốn cửa tử và duy nhất chỉ một cửa sinh.

Lòng sông thì trắng xóa làm nổi trội những tảng đá đang bày thế trận, tảng nào, hòn nào “trông cũng ngỗ ngược và như những vị tướng”, “có vị trông uy phong lẫm liệt”, “có vị thì như đang hất hàm bắt cái thuyền phải xưng tên xưng tuổi trước lúc giao chiến”. Có vị “lại lùi về một tí và thử thách cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào”.

Con thác khúc sông này mới độc áo, xảo quyệt làm sao! Nó như đang phục kích để rồi đột nhiên nhổm cả dậy vồ lấy con thuyền nơi khúc sông ngoặt, lúc thì nó lại tỏ ra sơ hở để dụ con thuyền vào rồi bất thần quay lại đánh quật vu hồi. Lúc đánh giáp lá cà tì nó đâm thẳng vào hông ông lái đò, bẻ gãy cán chèo, rồi đá trái thúc gối vào bụng, giở đủ đòn âm, đòn tỉa, rồi túm lấy thắt lưng đòi lật ngửa bụng ông lái đò trên trận nước. Nó vừa đánh vừa reo hò la hét vang động cả một vùng sông nước hoang vu.

Đồng thời, lúc viết về dòng sông, Nguyễn Tuân đã bộc lộ rõ mình là một nhà văn với tình yêu quê hương tổ quốc tha thiết bởi trong văn học nghệ thuật, viết về núi sông là viết về giang sơn nhưng mà viết về giang sơn là viết về Tổ quốc. Đây là tình yêu nhất quán trong cuộc đời cầm bút của nhà văn. Trước cách mệnh, tình yêu quê hương Tổ quốc của Nguyễn Tuân được bộc lộ một cách thầm kín thông qua tác phẩm “Thiếu quê hương”.

Ko chỉ ngừng lại ở đó, ngòi bút của Nguyễn Tuân còn tập trung vào để mô tả cái vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng của dòng sông Đà, nhất là đoạn sông ở phần hạ lưu. Người yêu văn nhận thấy Đà giang hiện lên qua ngòi bút của Nguyễn Tuân thơ mộng, lãng mạn, trữ tình, vô cùng kiều diễm.

Nếu ở đoạn văn trên, Nguyễn Tuân mô tả con sông Đà hung bạo với những tri thức nền chủ yếu là quân sự hay võ thuật cùng những câu văn ngắn, nhiều động từ, nhiều thanh trắc thì tới đoạn văn này, Nguyễn Tuân chủ yếu sử dụng tri thức du lịch, tri thức lịch sử, tri thức văn học với câu văn vươn dài ra như nhịp chèo thong dong của thuyền tôi trôi trên sông Đà. Nếu quan tâm, người yêu văn hẳn sẽ nhận thấy có tới mười bốn câu văn Nguyễn Tuân kết thúc toàn với thanh bằng để tạo cảm giác mênh mang mềm mại.

Cái đẹp của sông Đà, nhưng mà cũng có nhẽ cũng là nét đẹp trong tâm hồn Nguyễn Tuân, hiện lên mỗi khác qua mỗi góc nhìn không giống nhau. Lúc nhà văn bay tạt ngang sông Đà, từ trên cao nhìn xuống con sông, điều trước nhất nhìn thấy lại chính là hình dáng như “cái dây thừng ngòng ngoèo”, sau đó là “từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây” rất tinh tế và ngưng đọng lại hình ảnh “sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

Và những lần sau nữa, lúc Nguyễn Tuân “nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà” hoặc lúc xuyên qua đám mây mùa thu nhưng mà nhìn xuống dòng nước sông Đà”, ông thấy dòng sông hiện lên như một mỹ nhân hiền dịu đầy xuân sắc với bao màu sắc chuyển đổi kì diệu: “mùa xuân dòng xanh ngọc bích”, “mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”. Con sông tươi đẹp, sinh động biết bao chứ ko phải là con sông đen như “thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào nhưng mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu”.

Và con sông Đà lại đẹp một kiểu khác nữa, lúc Nguyễn Tuân dẫn người đọc đi xuyên rừng tới. Ông đã gọi sông Đà tới ba lần tiếng “cố tri”. Nguyễn Tuân ấn tượng với cái màu nhoang nhoáng của mặt nước như trẻ em nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”. Và ông đột nhiên phát hiện trong cái nhấp nhánh đó “sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Bờ bãi sông Đà rập rờn bay bao chuồn chuồn bươm bướm.

Nhà văn vui sướng đắm say lúc hội ngộ cùng con sông. Nỗi niềm đó được ông ví von như thú vui lúc thấy cái “nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “như nối lại mộng mị gián đoạn” – cái nắng sưởi ấm tình cảm thân yêu, thân thiện của tác giả trong cảm giác “đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố tri”.

Một lần nữa lúc thuyền trôi ven bờ, tác giả đã phát hiện được thêm bao nhiêu vẻ đẹp gợi cảm của con sông. Gây ấn tượng trước nhất với người nghệ sĩ là sự yên ắng nhẹ nhõm: “Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ tới thế nhưng mà thôi”. Con sông hiện thời ko hẳn chỉ là của hiện nay, nó trôi ngược về quá khứ xa xưa với sự so sánh, liên tưởng đầy bất thần của tác giả: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử.

Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Càng đọc, ta càng có cảm giác như tác giả đã nhập thân làm một với cỏ cây sông nước, như say sưa mê đắm với ko gian nơi đây để cho hiện dần lên trước ống kính bao vẻ đẹp sinh động: đó là “nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, là “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp”, là “một đàn hươu vùi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”. Đằng sau những dáng vẻ, những thực thể, màu sắc đó, người ta còn thấy một sức sống ngồn ngộn, tươi mới, trẻ trung đang ẩn náu, đang ngầm sinh sôi, chuyển động.

Kì ảo hơn nữa là lúc nhà văn như đã nghe được tiếng nói của chú hươu: “thơ ngộ ngửng đầu nhung khỏi áng cỏ sương” cũng như dòng sông “đang lắng tai những giọng nói êm êm của người xuôi”. Và từ hiện nay, ông ước mơ tới tương lai nghe một “tiếng còi sương” hoặc “thèm được giật thột vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa trước nhất” hòa nhập cùng dòng sông “lững lờ như thương nhớ”.

Có thể nói tâm hồn nhà văn như vỗ cánh cùng ước mơ sông Đà đẹp tươi hơn trong ngày mới dựng xây. Càng về cuối bức tranh, sông Đà càng đẹp và sống động với “áng cỏ sương”, rồi “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi” và “tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến”. Cảnh tự nhiên cứ mở rộng dần bằng vẻ đẹp vừa hiện thực vừa biến ảo trong cái nhìn đắm mình trong thơ mộng của nhà văn.

Ta còn thấy hai nghệ thuật nhân hóa và so sánh được Nguyễn Tuân sử dụng một cách rất nhuần nhụy. Ông cảm nhận con sông Đà và so sánh nó, ví von nó như một áng tóc của người thiếu nữ vô cùng lãng mạn, trữ tình, mĩ lệ: “như một áng tóc trữ tình”… Đây được xem như đoạn thơ đẹp nhất trong tùy bút “Sông Đà”. Đọc xong “Người lái đò sông Đà”, gấp lại trang sách đã lâu nhưng những câu văn đẹp như những vần thơ đó vẫn giăng mắc, ở trọ mãi trong tâm hồn của mỗi người yêu văn.

Nhà văn đã để cho dòng xúc cảm dào dạt thốt lên thành lời hội thoại yên lặng với tự nhiên, bờ bãi ven sông, dường như con người muốn hòa vào cùng cảnh vật, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đầy sức cuốn hút của dòng sông. Ngòi bút nhà văn tới lúc này mới thật sự vẫy vùng trong sự say sưa khám phá cội nguồn, kể về lịch sử dòng sông gắn với cuộc sống và con người Tây Bắc, những người đã đón nhận những tặng vật phóng khoáng của sông Đà.

Xúc cảm từ thực tại của Nguyễn Tuân còn khơi nguồn cho những ước mơ mang tính dự đoán về tương lai, biến sức mạnh của dòng sông trái tính trái nết thành nguồn thủy điện dồi dào. Rõ ràng, thực tại cuộc sống mới đã tạo điều kiện cho Nguyễn Tuân có những dự cảm chuẩn xác, có niềm tin vững chắc vào những con người đang xây dựng một cơ chế mới, đem lại sinh khí mới cho cuộc sống ở sông Đà.

Với sự quan sát tinh tường, trí tưởng tượng phong phú và tư duy liên tưởng so sánh bất thần liên kết cùng việc sử dụng tài tình tiếng nói Tiếng Việt với các cấu trúc câu trùng điệp, phối hợp linh hoạt và đầy thông minh các giải pháp tu từ, tác giả đã làm nổi trội lên hình tượng con sông Đà như một biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ nhưng cũng đầy thơ mộng của tự nhiên tổ quốc. Hình tượng tự nhiên này cũng chính là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong thời đoạn mới.

Qua đó, nhà văn cũng bộc lộ được sự tài hoa của mình lúc liên tục thông minh nên những dáng vẻ biến ảo khôn lường khiến người đọc phải ngạc nhiên, thán phục. Đó là sự tài hoa thiên bẩm cùng với nền tảng là một vốn tri thức uyên bác về cả nghệ thuật lẫn cuộc đời, sự dày công quan sát, tìm hiểu nhân vật cần tiếp cận, khám phá cũng như tình cảm man mác sâu nặng, đượm đà và giàu sức sống, đầy tươi trẻ dành cho Tổ quốc.

Tuỳ bút “ Người lái đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật tài hoa uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân . Tác phẩm ko chỉ ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ thơ mộng của tự nhiên Tây bắc nhưng mà còn ca tụng vẻ đẹp bình dị , người hùng nhưng mà tài hoa của người dân lao động nơi đây . Qua đó, nhà văn Nguyễn Tuân bộc lộ tình yêu tổ quốc , niềm tự hào hứng khởi, gắn bó tha thiết với non sông Việt Nam.

Phân tích Người lái đò sông Đà – Bài mẫu 2

Nguyễn Tuân sinh năm 1910, mất năm 1987 là một nhà nghệ sĩ lớn của dân tộc Việt Nam. Vốn là một người tri thức giàu lòng yêu nước lại am tường sâu rộng nền văn hoá dân tộc, ông viết nên những tác phẩm rất mực uyên bác và giàu trị giá. Nếu như trước cách mệnh, văn học của Nguyễn Tuân chạm tới lòng người bởi vẻ đẹp tài hoa của những con người “một thời vang bóng” như Huấn Cao thì sau cách mệnh, Nguyễn Tuân khiến người đọc rung cảm bởi sự tinh tế và tài năng trong việc vẽ nên những nét đẹp gân guốc nhưng thân thiện, bình dị với tự nhiên và đời sống con người. Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” là một thành công tiêu biểu cho phong cách văn học đó.

Trong tùy bút, Sông Đà hiện lên vừa hùng vĩ, kiêu sa, dữ dội lại vừa xinh đẹp, dịu dàng, thơ mộng. Nguyễn Tuân đã mô tả dòng sông trên nhiều góc độ, nhiều phương diện nhưng mà nhìn trên phương diện nào cũng thấy thấy đẹp, thấy yêu. Ko yên ắng soi bóng hàng tre mỗi trưa hè, cũng ko mang nét tư lự trong từng hơi thể lúc màn đêm buông xuống nhưng mà sông Đà hiện lên vô cùng sống động, dữ dội và mãnh liệt. Nó như được xem là “quân thù số một của con người”. Những con thác lớn dữ dội, những gạn nước từ Vạn Yên về xuôi thật mênh mang. Hai bờ sông dựng đá thành những vách hiểm trở khôn xiết. Nước và sóng xô chồng lên nhau như đang thi nhau phô bày tất cả vẻ dữ tợn, oai hùng của mình: “Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”. Mặt sông lúc nhìn từ trên cao xuống là vô vàn những hút nước như những trụ bê tông. Dòng nước kêu lên thành những tiếng kinh rợn, lúc thì kêu lên như những cái giếng đang bị sặc nước, lúc lại ằng ặc như tiếng dầu sôi”. Tất cả dựng lên trước mắt ta thế hiểm trở và đầy rẫy những thử thách, nguy hiểm nhưng mà người nào đi qua cũng phải đương đầu. Sông với tư thế kiêu hùng và có phần bạo ngược của mình sẵn sàng nhấn chìm bất kể người nào ko vững vàng vô lăng trước từng con con sông, ko làm chủ trên chiến trường đoạt được dòng sông. Bởi vậy nhưng mà nó khiến bao con thuyền đi qua phải dè chừng, hoảng sợ, cố tránh né những cạm bẫy nhưng mà sông Đà sắp đặt sẵn: “Ko thuyền nào dám men gần những cái hút nước đó, thuyền nào cũng trèo nhanh để lướt quãng sông”, biết bao nhiêu bè gỗ đã phải chịu trận trước những hút sâu khổng lồ, biết bao nhiêu con thuyền nghênh ngác phải tan xác dưới lòng sông.

Vốn am tường thâm thúy cùng sự trải nghiệm của mình Nguyễn Tuân dùng những ngôn từ mới lạ, lĩnh hoạt, lạ mắt để mô tả một dòng sông Đà. Sông Đà cũng mang dáng dấp xinh tươi, dịu dàng và thơ mộng, uyển chuyển như vẻ đẹp của người thiếu nữ chốn núi rừng Tây Bắc vậy. Sông Đà lúc này thật thơ và mộng mơ, tình yêu như đang tràn với bao xúc cảm nồng nàn khó tả: “Con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình…cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Vẻ đẹp của dòng sông thật yên bình, khơi gợi sự mến thương, đưa lòng người tới với những rung cảm trong tâm hồn mình, một sức thu hút tuyệt vời quá đỗi. Đôi lúc, sông Đà cũng có những xúc cảm, cũng nhớ, cũng thương như bao người vậy. Vẻ đẹp trữ tình của dòng sông còn được trình bày giữa tự nhiên, mây trời tạo nên nét riêng lẻ ko trộn lẫn, bởi vậy dù bất kỳ lúc nào nó cũng khiến người thưởng thức bị thu hút: “Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu nhưng mà nhìn xuống dòng nước sông Đà”. Ko chỉ vậy, sông Đà còn khiến người ta thích thú bởi sắc nước thay đổi theo mùa: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà ko xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ tức giận ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”.

Bờ sông Đà cũng thật đẹp, thật ngọt ngào bởi hương vị của hoa, của bướm, của chuồn chuồn, của những bãi ngô non đầu mùa hay những cô giành vàng nõn búp. Đó đây những đàn hươu đang thư thả gặm những bãi cỏ non tơ ướt đẫm sương đêm, mọi vật như đang hòa mình trong nét tuyệt diệu của dòng sông, tô điểm nên một vẻ đẹp gọi mời khiến lòng người thổn thức: “Con hươu thơ ngộ ngửng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chằm chằm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi ko chớp mắt nhưng mà như hỏi tôi bằng cái nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Sông Đà như một “người cố tri” lại như một” người nghệ sĩ tài hoa”. Qua cách mô tả thật lạ mắt với những xúc cảm thành tâm, sự trân trọng, nâng niu từ những điều bình dị, nhỏ nhặt, Nguyễn Tuân như khắc hoạ nên một bức tranh thủy mặc của sông Đà say đắm lòng người với vẻ tuyệt vời, thân yêu.

Cùng với hình tượng sông Đà phong cách, tới với tác phẩm ta còn cảm thu được hình ảnh người lái đò tài hoa, nghệ sĩ, điêu luyện trên dòng sông. Người lái đò đó ko phải là một chàng thanh niên trai tráng với thân hình vạm vỡ nhưng mà là một ông già đã gần bảy mươi tuổi: “Trên dòng sông Đà ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay giữ lái độ sáu chục lần”. Phải chăng những kinh nghiệm qua bao cuộc hành trình suốt mười năm làm việc đã giúp ông trở thành thuần thục, khả năng và kiên trường tới tương tự: “Ông nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng đất tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”. Người lái đò như một thứ “vàng mười” đã qua thử lửa: Cái đầu bạc quắc thước đó đặt trên một thân hình cao to và gọn quánh như chất sừng, chất mùn”, con người ông là con người của chốn sông nước hùng vĩ, trên ngực ông là những “củ khoai nâu” in dấu những trận chiến vật vã với con sông Đà dữ dội, với tác giả dường như đó là những tấm huy chương cao quý mình chứng cho sức lao động của con người trong công việc của mình. Đứng trước những đợt sóng kinh hoàng, những thạch trận nguy hiểm, ông ko hề sợ sệt nhưng mà trái lại càng khả năng thích thú hơn: “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá… Và một mình một thuyền ông đã giao chiến như một vị dũng sĩ đầy tài giỏi. Trải qua ba thạch trận bằng dũng cảm, mưu trí cả mình, người lái đò đã thắng lợi , trở về với cảnh lao động và cuộc sống bình yên: “Thế là hết thác… Sông nước lại thành bình. Đêm đó nhà đò đốt lửa trong hàng đá, nướng ống cơm lam…”.

Nguyễn Tuân đã mang tới cho nền văn học nước nhà một tuyệt bút vô cùng lạ mắt, một phong cách nghệ thuật riêng lẻ, uyên bác, tài hoa. Khép lại những trang văn của tùy bút “Người lái đò sông Đà”, em vẫn ko nguôi xúc cảm lâng lâng trong tâm hồn mình, có chăng, đó là những điều xinh tươi nhất nhưng mà văn học đã mang lại, khơi gợi trong lòng mình những xúc cảm thẩm mỹ vô cùng lớn. Thật cảm ơn Nguyễn Tuân, một người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp để nâng niu những trị giá vững chắc của đời sống lao động và của dân tộc.

Đăng bởi: thomo.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Xem thêm chi tiết về Tóm tắt tác giả, tác phẩm Người lái đò sông Đà

Source: THOMO
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận